Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ ( KỲ 4 )


                                          (tiếp theo)


Cô Út ngạc nhiên :
" Mình xài va li  túi xách được rồi, mua thùng gỗ làm gì tía ?"
Bác Ba Phi dõng dạc :
" Tao đựng quà cho thằng rể Mỹ. Nó mời mình sang chẳng lẽ tay không ? Phải có quà gì thật đặc biệt chớ ?"
Cô Út vui vẻ  :
" Tía nghĩ vậy "very good" nhưng tía tính quà gì vậy ?"
" Tao đã kiếm cho nó được  món quà này hiếm có lắm, đáng mặt Việt Nam lắm..."
Bác Ba Phi vào buồng trong lễ mễ khiêng ra một con khỉ nhồi bông lớn bằng đứa bé con. Ôi chao ôi, con khỉ còn nguyên con được tạo dáng ngồi nom như còn sống, nếu không nhìn vào đôi mắt thuỷ tinh khó nhận ra nó chỉ là cái xác khô.
Cô Út  kinh hãi :
" Oh My God...tía kiếm đâu ra cái của rùng rợn này ?"
Bác Ba Phi tự hào :
" Năm ngoái tao phải vô miệt rừng Cà Mâu tìm cánh thợ săn mới mua được  đó. Lại phải chở về lò nhồi bông thú.Mang con khỉ này sang bển trưng  phòng khách chắc thằng chồng mày thích lắm ?"
Cô Út la lên :
" Không được đâu tía. Mang sang bển hội animal right người ta kiện  chết sặc máu..."
" Mày nói cái Hội gì ?"
" Là Hội bảo vệ quyền của loài vật đó..."
Con vợ thằng Đậu cười rinh rích :
" Bộ con chó con mèo cũng có quyền sao...ở bển ăn no mặc đẹp sanh nhiều chuyện quá ta..."                                                                                          
Cô Út trừng mắt:
“ Con gì thì cũng biết vui biết buồn, biết đau...giờ tao lôi mày ra cắt tiết như cắt tiết gà mày chịu không ?”
Con vợ thằng Đậu rụt cả cổ lại , la oai oái :
“ Í mèn ôi, ghê quá, ghê quá... ”
Cô Út doạ :
“ Vậy đó... sát sanh tội nặng lắm đó , kiếp sau đầy xuống địa ngục quỷ sứ nó cắt cổ mày luôn...”
Thằng Đậu nhảy vào bênh vợ :
“ Cô Út nói không sai . Có điều không sát sanh mình nuôi gà làm gì ?”
Cô Út bực mình :
“ Thì ai bảo mày nuôi...mà lỡ nuôi thì phóng sanh hết đi...”
Con vợ thằng Đậu la lên :
“ Í mèn ôi... cả nhà con sống bằng đàn gà đó cô. Phóng sanh rồi lấy gì đong gạo. Mà năm ngoái cúm gà người ta chôn sống cả ngàn con gà kìa...Vậy họ có tội không cô Út ?”
Cô Út trợn mắt :
“ Không chôn nó thành dịch chết người sao? Ở Mỹ khi có dịch bò điên người ta cũng giết cả trăm con kìa...”
Con vợ thằng Đậu  trố mắt :
“ Vậy mấy ông Mỹ không sợ phải tội sao ?”
Cô Út giảng giải :
“ Tội sao được ? Người ta giết bò bằng điện chớ có chôn sống như người Việt mình đâu. Giết bằng điện, bò nó chết nhanh nên không đau...”
Con vợ thằng Đậu cười hích hích :
“ Bộ cô Út có phải bò đâu mà biết nó  chết nhanh không đau ?”
Cô Út giận đỏ tía tai, bác Ba Phi vội quát :
“ Con vợ thằng Đậu kia... mày có im mồm đi không ? Biết cái gì mà cãi ? Cô Út đi khắp năm châu bốn biển lại sống tận bên Mỹ không hiểu biết hơn mày cả đời rúc xó vườn sao ? “
Con vợ thằng Đậu bị ông nội quát, tức mình nguây nguẩy xuống bếp. Nó quay qua quay lại, mặt đỏ tía tai lôi ngay cái bu gà trong góc ra thả con gà mái tơ ra ngoài sân. Thằng Đậu đứng cửa bếp nhìn thấy, la chói lói :
“ ủa ? Sao mày dám thả con gà nội mới mua  tối nay nấu cháo cho cô Út ?”
Con vợ thằng Đậu  gân cổ cãi :
“ Cổ có ăn thịt gà đâu mà nấu ?”
“ Ăn chớ sao không ? Hôm rồi cổ chẳng ăn gà quay nội mua trên Sàigòn về là gì ?”
Con vợ thằng Đậu dẩu mỏ :
“ Bữa nay hết ăn rồi. Cổ sợ sát sanh mà. Bộ anh hổng nghe cổ mới nói à ?”
Thằng Đậu la lên :
“ Chèn đéc ôi...sao mày ngu lâu quá vậy ? Tao cắt cổ gà thì tao chịu tội chớ phải cổ đâu mà cổ lo sát sanh ?”
Bác Ba Phi nghe cãi nhau, chạy xuống quát :
“ Thôi thôi, không cãi nhau nữa. Thằng Đậu phóng xe về Sàigòn vô siêu thị mua gà làm sẵn tối nấu cháo cho cô Út...”
Con vợ thằng Đậu dẩu mỏ :
“ Việc gì phải về Saigòn ? Cứ ra chợ huyện khối gà, trỏ tay vô con nào là nó cắt tiết ngay cho mình con đó, vừa rẻ lại vừa tươi ngon...”
Thằng Đậu quát :
“ Lại ngu nữa.Gà làm sẵn vô bịch khác, gà đang sống mang cắt cổ khác. ...”
“ Khác đâu mà khác ? Đằng nào cũng mang gà ra cắt tiết ...khác chỗ nào ?”
Thằng Đậu rền rĩ :
“ Í mèn ôi... con này lại ngu nữa rồi ! Một đằng là khuất mắt trông coi, một đằng nó cắt cổ gà ngay trước mũi mình...khác nhiều lắm chớ…”
Cô Út bất chợt bước tới. Từ nãy cô đã nghe hết cuộc cãi vã giữa hai vợ chồng thằng Đậu. Cô lên giọng dàn hoà :
“ Thôi thôi, khỏi cãi nhau, khỏi mua gà, cholesterol nhiều lắm , vả lại buổi tối cô chỉ uống sữa đậu nành thôi, hổng ăn gì đâu. Mà ở Mỹ gà làm sẵn vô bịch có 8 USD một con, còn gà giết tại chỗ giá những 10 USD một con lận. Hai loại có khác nhau đó....”
Món gà sau vụ rắc rối đó trở thành món “nhạy cảm”, thằng Đậu không dám mua cho cô Út ăn nữa, gã đang vò đầu bứt tai nghĩ coi nên đãi cô Út món gì bất ngờ cô nhận điện khẩn chồng đòi về ngay có việc gấp. Cô vội vàng đổi vé đi ngay không kịp chờ bác Ba Phi . Trước lúc đi cô dặn lại :
“ Con phải đi trước, tuần tới tía đi sau vậy. Tía cần nhớ đừng có mang các thứ nước lên máy bay , tỷ như nước mắm, nước tương , nước giải khát… Nó cấm tiệt đó...”
Bác Ba Phi lo lắng :
“Mang rượu có được không ?”
“ Không được...rượu  cũng là chất lỏng, cấm đó...”
“ Vậy ngồi máy bay đi Mỹ hết mấy tiếng ?”
“ Từ Sàigòn bay đi Hồng Kông hết 3 tiếng, chờ 5 tiếng, bay tới Los Angeles hết 14 tiếng nữa , coi như mất nguyên một ngày một đêm...”
Bác Ba Phi la lên :
“ í mèn ôi...suốt một ngày một đêm không có giọt rượu nào , chết tao rồi...”
Cô Út an ủi :
“ Tía chịu khó. Xuống phi trường con cầm sẵn chai rượu  đón tía...lúc đó tía tha hồ uống ...”
Bác Ba Phi vỗ trán như chợt nhớ ra :
“ Suýt nữa tao quên. Nghe nói vô làm thủ tục ở sân bay Tấn Sơn Nhất mình phải kẹp tờ 10 đô la vào hộ chiếu thì công an nó mới cho đi . Vậy tao kẹp tiền Việt được  không ?”
Cô Út la lên :
“ Chớ...tía chớ có làm vậy...tía có phải Việt kiều đâu...tía là Việt cộng mà…ngộ nhỡ công an họ lập biên bản hối lộ cán bộ Nhà nước thì nguy...”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Tao không phải Việt  kiều hẳn rồi, mà tao cũng có là Việt cộng đâu, tao  là … người Việt đằng mình kìa.”
Con vợ thằng Đậu dẩu mỏ nói leo :
“Đằng mình đằng nó gì qua cửa quan cũng phải phong bì . Bữa trước con lên xã lấy sổ đỏ vườn nhà đó, cha địa chánh nói sổ thì có rồi nhưng phải làm thủ tục…”
Cô Út ngơ ngác :
“ Thủ tục gì ?”
Thằng Đậu cười lớn :
“ Thủ tục  “đầu tiên” tức “tiền đâu” đó cô Út.”
Cô Út gạt đi :
“ Ở đâu con hổng biết, nhưng ra sân bay, người như tía khỏi kẹp tiền vô hộ chiếu…Tía khỏi lo, con đã  viết sẵn cái bảng có tên sân bay Los Angeles, khi máy bay hạ xuống Hồng Kông tía cứ chìa cái bảng ra hỏi người ta khắc chỉ cho tía…”
Cô Út lại cẩn thận dậy bác Ba Phi một số câu tiếng Anh thông thường như “dét” (yes), “nô” (no) , “só dì” (sorry) ,“thánh kêu” (thank you), …nhưng chỉ được dăm  ba câu là bác Ba Phi đã la toáng lên “nhức đầu, nhức đầu”. Cô Út về Mỹ rồi, con vợ thằng Đậu cứ luôn miệng trêu bác Ba Phi :
“ Só dì…thánh kêu…Nội thuộc chưa ?”
Thằng Đậu sai vợ đi mua rượu về nhậu , thấy cô ta cứ lần chần , sốt ruột vọt miệng chửi :
“ Thánh kêu …thánh kêu con mẹ mày…có nhanh lên đi mua rượu cho nội  nhậu không ?”
Sau cùng cũng tới ngày bác ba Phi lên đường. Mặc dầu 12 giờ máy bay mới cất cánh nhưng từ sáng sớm một chiếc xe taxi đã ghé đầu xóm chờ đợi. Đúng theo đúng cô Út dặn, bác Ba Phi thắt cà vạt, mặc com lê, đi giày đen, tay xách va li, vừa bước ra cửa, bà con lối xóm đứng chờ coi vỗ tay rần rần :
“ Í mèn ôi, bác Ba Phi thành Việt kiều rồi tụi bay ơi …”
“ Oách hơn cả Việt kiều ấy chớ…Bác Ba Phi đi kỳ này phải trổ hết tài nói dóc cho Mỹ nó biết tay nghen!”
Thằng Đậu trợn mắt :
“ Nói dóc hồi nào ? Nội tôi xưa nay toàn nói thiệt nói dóc hồi nào ?”
Bà con cười ầm ầm :
“ Nội mày không có cái món đặc sản “nói dóc”  thì sao thành “thương hiệu” bác Ba Phi cả xứ ai cũng biết ?”
Thằng Đậu cười hề hề xách va li bỏ cốp. Bác Ba Phi hùng dũng bước tới, trước khi leo lên xe bác vẫy tay :
“ Chào hết bà con, tôi đi thăm Mỹ …”
Xe nổ máy xịt khói ra đít. Chợt con vợ thằng Đậu hốt hoảng, tay xách cái bảng cô Út  viết cho bác ba Phi chạy theo la toáng :
“ Nội ơi… quên nè…nội ơi…quên nè…”
Con vợ thằng Đậu lạch bạch chạy theo không kịp đành đứng thuỗn  tay cầm cái bảng cô Út viết chữ LOS ANGELÈS  khóc  hu hu lo nội nó không có cái bảng này liệu người ta có cho lên máy bay ?
 Bà Tư hàng xóm chạy tới :
“Nội mày quên cái giấy gì mà mày khóc như nội mày chết vậy ?”
Con vợ thằng Đậu nức nở :
“ Cái giấy này quan trọng lắm , phải có cái giấy này Mỹ nó mới cho vô nước nó…”
Bà Tư xem đi xem lại cái bảng rồi lắc đầu :
“ Không khéo lộn rồi…giấy này mang tên ông Mỹ chớ không phải tên nội mày…”

                               (còn tiếp)

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

NHÀ VĂN NHẬT TIẾN :"Nắng Sài Gòn . . . ai đi còn thấy mát ?"








"Nhật Tiến là một tên tuổi lớn trong làng văn Việt Nam. Cầm bút từ lúc còn là học sinh trung học ở Hà Nội, tiếp tục viết khi vào Nam sau 1954, ông vẫn in tác phẩm khi ra hải ngoại. Nhật Tiến viết nhiều thể loại, truyện dài, truyện ngắn, kịch, viết cho tuổi thơ và đã xuất bản trên 20 tác phẩm, trong đó nổi tiếng nhất là “Những Người Áo Trắng,” “Thềm Hoang,” “Người Kéo Màn,” “Chim Hót Trong Lồng,” “Giấc Ngủ Chập Chờn”... Một số truyện ngắn của ông cũng đã được dịch ra Anh và Pháp ngữ. Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn tiếp tục nghiệp chữ nghĩa, và vừa hoàn tất hai cuốn “Hành Trình Chữ Nghĩa” và “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác ” ( Đinh Quang Anh Thái - Người Việt) 

Nhân dịp này , “Thời 2Đ “xin giới thiệu chương  “ Nắng Sài Gòn . . . ai đi còn thấy mát ?” trong cuốn “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác ” ghi chép của nhà văn Nhật Tiến mới xuất bản .


Trải qua mấy kỳ, trường tôi họp để công bố danh sách Giáo viên được biên chế, vậy mà cái tên của tôi vẫn biền biệt. Cứ mỗi lần ông Hiệu trưởng gấp cuốn sổ lại để kết thúc danh sách đợt này, ông lại nói :
- Các đồng chí chưa có tên thì cứ yên tâm chờ đợt sau. Nhưng phải cố gắng phấn đấu hơn nữa thì rồi thế nào cũng tới lượt.
Lúc giải tán, mọi người xô ghế đứng dậy, kẻ thì vui vẻ ồn ào vì vừa được biên chế, kẻ thì ca cẩm sao mức lương của mình không đạt tới con số mình đã ước tính, đã thấp thỏm chờ đợi . Nó là sáu mươi lăm, hay sáu mươi, cùng lắm là năm mươi tám chứ không phải thứ bốn mươi hai đồng lãng xẹt như vừa công bố.
Sở dĩ mấy con số này được lấy ra làm  thước đo là vì nó là những mức lương của người đã được biên chế từ những kỳ trước, căn cứ vào trình độ chuyên môn, vào số năm thâm niên trong ngành và tinh thần phấn đấu phục vụ. Riêng những vị không được gọi đến tên thì có người cố giữ vẻ mặt thản nhiên, không nói năng gì, có người lại bật cười ngạo nghễ, biểu lộ sự chẳng có gì đáng phải quan tâm. Nhưng phải nói thêm tới cái ấn tượng bứt rứt khó quên nhất trong đầu óc của tôi, đó là phải chứng kiến những nụ cười gượng gạo, đậm vẻ cay đắng, thất vọng thay cho lời phân vua:
“ Phấn đấu đến thế mà vẫn chưa đạt tiêu chuẩn sao ? "
Riêng  trường hợp của tôi thì tôi hiểu rõ lý do tại sao mình chưa được biên chế. Nó bắt nguồn từ cái vụ năm ngoái, nhà  trường bắt các Tổ chuyên môn, mỗi tổ cho ra một tờ bích báo để treo trong hội  trường nhân dịp chào mừng một Ngày Lễ Lớn. Tổ của tôi sau khi nhận đu:ợc chỉ thị thì cũng họp hành, bàn thảo và phân công viết bài. Nói là viết cho oai vậy thôi, chứ tụi tôi bảo nhau đi cóp nhặt trên báo Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng chỗ này một đoạn, chỗ kia một khúc rồi xào nấu lại cho đủ đầu đuôi, xuông xẻ là xong. Phần bài của ai thì người ấy chép sạch sẽ trên giấy trắng đã cắt đo theo khuôn khổ của cột báo. Tôi chỉ việc gom lại rồi dán lên, tô vẽ kẻ biển thêm vài bông hoa, cánh bướm bằng bút mầu là xong tờ báo.
Một vài cô giáo không có khả năng "bình luận" theo kiểu cóp nhặt kể trên (mà thật ra cũng phải có khiếu mới làm được !) thì viết bài theo kiến thức chuyên môn mình đang dạy, như cô giáo môn Sinh vật thì góp bài "Kinh nghiệm mổ con Cá Chép", cô dạy môn Hóa đúng vào dịp đang giảng ở lớp bài chất khí Acêtylen thì góp bài "Đêm đêm thắp đèn Gió Đá đi bán Mía hấp  - Vậy đèn đó hoạt động ra sao?" . Tờ báo vì thế cũng có mầu sắc muôn mầu muôn vẻ.
Riêng tôi, vì là Tổ trưởng nên ngoài việc thu gom bài vở lại còn phải lo chuyện trình bầy. Gay go nhất là phần trên cùng của tờ bích báo. Nó vừa mang tên tờ báo, vừa có tính cách phơi bầy trình độ mỹ thuật cũng như biểu lộ giá trị nội dung của tờ báo. Tên báo thì chúng tôi đã chọn rồi, trong hàng chục cái tên mà các Tồ viên đề nghị : nào Phấn Đấu, nào Kiên Cường, nào Xung Phong, nào Chiến Thắng. . . .v. . .v. . .Trong khi thảo luận, có vị đã kêu lên:
- Báo dán trong nhà  trường mà tên gọi chẳng thấy có tí giáo dục nào. Mỹ thì đã cuốn gói từ lâu, vậy thì đòi Xung Phong hay Chiến Thắng với ai . . . .
Ai nấy chợt ngẩn người ra vì cái điều vị ấy nêu ra rất có lý. Hóa ra trong ngần ấy năm tháng sống trong bầu không khí luôn luôn có dịp vang động tiếng trống tiếng kèn, tiếng hoan hô, đả đảo để biểu dương khí thế hay phát động đủ thứ chiến dịch, trong đầu óc của chúng tôi cũng nhiễm phải cái bệnh cứ thích lên gân hùng dũng. Mà phải chi đúng chỗ, đúng lúc thì còn không sao, nhưng bất cứ cái gì cũng cứ phải đem ra gân cổ, gào to lên thì coi sao được . Thế là một loạt tên mới lại được nêu ra, đậm vẻ nhà  trường hơn như : Nhà Giáo, Sân  trường, Bảng Đen, Bục Giảng..v.v. . .
Nhưng rồi chính tôi lại thấy băn khoăn :
- Sao nghe nó chẳng khác kiểu tiểu tư sản ngày xưa bao nhiêu. Thời buổi bây giờ nếu thêm được tí mầu sắc lao động thì chắc phù hợp hơn nhiều.
Một cô giáo nghe chừng đã sốt ruột vì phải về sớm trông con, nấu bếp, liền buông ngay một câu :
- Thế thì cứ lấy mẹ nó cái tên là Nguồn Vui, Niềm Vui gì đó cho  xong. . . Chả hay ho gì nhưng khó bắt bẻ.
Tôi vớ ngay được cái ý hay đó liền reo lên:
- Niềm Vui Mới ! Niềm Vui Mới . . . nghe được không ?
Dĩ nhiên là mọi người đều nhất loạt tán thành. Niềm Vui như cô giáo đề nghị thì chưa đủ. phải "mới" nữa thì.mới đúng quan điểm, lập  trường. Cái sự cứ phải che chắn, rào đón này tôi cũng không rõ đã nẩy sinh ra tự bao giờ, nhưng rõ ra là cái nếp suy nghĩ hàng ngày của tôi cũng như của mọi người cứ ngày một thấy khác đi.
Tên đã chọn được rồi, Nhưng minh họa được cái "niềm vui mới' này thì cũng không phải chuyện dễ. Sau có anh bạn góp ý :
- Cần gì cứ phải cầu kỳ bắt buộc minh họa cái vui. Lấy đại hình các vị lãnh tụ đem lên trang trí tờ báo thì nào có ai dám bắt bẻ !
Tôi băn khoăn:
- Đây là một ý kiến hay, Nhưng ta chọn các lãnh tụ nào đây ? Bác Hồ, bác Tôn, ông Đồng, ông Duẩn thì đi một nhẽ rồi. Nhưng còn ông Trần Văn Trà, ông Văn Tiến Dũng, ông Lê Đức Thọ, ông Võ Nguyên Giáp, biết chọn ai, bỏ ai ?
- Quý hồ tinh bất quý hồ đa ? Đem hết cả những khuôn mặt đó vẽ lên. thì hết mẹ nó trang báo. Mình lấy mấy vị "quốc tế" thôi.
- vậy là những ai ?
- Thì Các Mác này, Lê Nin này, Xít Ta Lin này. . .Bên Á đông thì có Bác Hồ, lão Mao.
- Dẹp mẹ thằng cha Mao đi. Nó đang dọa cho nước ta một bài học. Tương hình hắn lên có mà Thành ủy nó cho đoàn viên Thanh Niên tới đốt  trường.
Một vị khác  cười ngỏn ngoẻn:
- Thôi, cứ đè mấy anh ngỏm rồi cho lên báo là ổn. Các Mác - Lê Nin- Xít ta Lin , toàn cỡ trùm Cộng sản mà cũng đều ngủ với giun cả rồi đấy.
Nhưng tôi lại thắc mắc :
- Vẽ cái đám ấy thì dễ. Cứ phệt chòm râu xồm vào là nom ai cũng  giống hết. Nhưng còn vẽ Bác Hồ thì sai một ly đi một dặm đấy.
Mọi người ngẩn ra nhìn nhau vì mối lo này không phải là không có lý. Mới xảy ra trong thời gian gần đây là vụ một công ty ấn loát Hợp Doanh in năm chục ngàn tấm chân dung Bác Hồ để phân phối đi các nơi. Nào dè khi đóng gói, công nhân mới phát hiện ra là đã in sai cái tên: "Chân dung Bác Hố Chí Minh" thay vì "Chân dung Bác Hồ Chí Minh". Hồ mà thành Hố thì chết cả đám rồi ?Thế là công ty phải đem hủy bỏ hết, mà cũng không dám in lại tấm hình khác. Lý do :
- Chỉ cần lọt một vài tấm in sai vào cái mớ đã in lại thì tội danh gian dối để phá hoại còn tầy trời hơn nữa.Thôi thà hủy bỏ sáng kiến in ấy đi cho rồi !
Chính vì cái kinh nghiệm này mà tôi thấy rất ngần ngại phải vẽ hình Bác Hồ lên trang báo. Nhưng sau nhiều phút bàn thảo, chúng tôi cũng tìm ra cách giải quyết Đó là : hình 3 ông Tây kia với những chòm râu xồm xoàm thì cứ vẽ, còn hình Bác thì đặt riêng ở một nơi khác trịnh trọng hơn, lại không phải hình vẽ mà là hình chụp. Chọn hình chụp từ cơ sở nhà in báo Nhân Dân là chắc ăn nhất, sẽ không lo bị bắt bẻ xuyên tạc.
Thế là tờ báo của Tổ chúng tôi được hoàn tất đúng kỳ hạn và được treo trịnh trọng bên cạnh những tờ của tổ khác, nom chẳng khác một vưn hoa khoe sắc, rất đúng với câu " Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" (bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh !)
Vậy mà chỉ nội trong ngày hôm sau, tôi đã được nghe lời xì xào:
- Tờ báo có vấn đề !
Tôi vội vã chạy đi tìm hiểu thì mới phát giác ra rằng, bài vở, nội dung tờ báo thì không sao, nhưng hình  vẽ trang tri thì quả là mang tai họa. Lại là thứ tai họa tầy trời !
Tôi nhớ lại những giờ cặm cụi trình bầy trang báo. ở phần quan trọng nhất là phía trên cái tên của tờ báo, tôi đã thận trọng lót giấy than can nguyên con hình của ba ông Các-mác, Lê Nin, Xít-ta-lin mà tôi tìm thấy đầy dẫy trên báo chí tài liệu trong thời kỳ đó. Sau khi can xong, tôi mới lấy bút nỉ tô lên cho đậm nét, khiến nét mặt của cả ba ông đều nom rất nổi. Chẳng hiếu đã nghĩ sao, tôi lại còn đặt cả ba cái chân dung này lên trên một cái nền mầu đỏ tươi, gọi là tô điểm cho ba vị thêm sống động trên mầu sắc cuả lá cờ Cộng sản, với ngụ ý cả ba ông đều là những lãnh tụ của phong trào Cộng sản trên Thế giới.
Lập trường chính trị "vững chắc" đến thế rồi còn gì ! Ấy thế mà khi tờ báo trưng lên, chẳng bao lâu sau đã có kẻ buông một một câu xanh rờn :
- Tờ báo đã vẽ ba cái đầu lâu trôi trên biển máu !
Ôi trời ôi là trời ! Độc địa quá, mà cũng . . . đúng quá ! !
Quả nhiên bây giờ ngắm lại, tôi thấy rõ ràng mấy cái đầu ông Mác, ông Lê, ông Xít đang trôi lềnh bềnh trên biển máu mà trước đây tôi chỉ nghĩ đơn sơ như nó là cái nền đỏ của lá cờ Cộng sản Quốc tế ?
Dĩ nhiên là tờ báo cấp tốc bị triệt hạ và tôi bị Ban Giám Hiệu gọi lên chất vấn :
- Thầy cho là các vị lãnh tụ của phong trào Cộng sản quốc tế đã gây nên biển máu à ? '
Tôi cãi lại :
- Đó không phải là biển máu mà là nền cờ. Cờ của Đảng CS cũng mang mầu đỏ vậy.
- Nhưng tờ báo có ý thâm hiểm, mượn cái này để nói cái kia. .
- Đó là một sự xuyên tạc. Tôi là nhà giáo, không có thói quen dùng thủ đoạn lá mặt lá trái.
- Vậy thầy hãy làm tờ tường trình đi. Trên sẽ xem xét chuyện này cẩn thận.
Thế là tôi đã phải dành ra gần hai tiếng đồng hồ để viết lời khai, kể từ khâu khởi sự cho tới khi tờ báo thành hình. Đặc biệt là về những ý kiến mà Tổ của tôi đã bàn thảo về việc đem những bức chân dung của các lãnh tụ lên trang báo. May quá, vì biết lo xa nên chuyện này chỉ liên hệ tới ba ông ngoại quốc, chứ không dính dáng gì tới nhân vật lãnh tụ Hồ Chí Minh. Có lẽ các cấp trên của Ban Giám Hiệu cũng thấy sự sai sót của tôi chỉ là vô tình mà không có ý đồ phản động, nên bình như tôi chỉ phải lãnh một hình phạt nhẹ nhàng, không có sự công bố chính thức:
“Hoãn biên chế !"
        (còn tiếp)

HẺM "BUÔN" CHUYỆN ( KỲ 49 ) :Ông già Nô-en đi đâu ?


 
    

“Đêm Noel …đêm Noel…chuông giáo đường vang lên …”, tiếng hát rộn rã khắp các…tụ điểm internet đường truyền cáp quang trai gái tha hồ chít chát, ngắm nghía chỗ kín qua webcam. Giáng sinh năm nay, giá cả leo thang, thất nghiệp gia tăng, đường phố kẹt xe  bà con chỉ muốn ngồi nhà. Quanh Nhà thờ Đức Bà, cửa nhà thờ Tân Định không còn cảnh “họp” chợ bán cây thông, ông già Noel và thiệp mừng Giáng Sinh, tất cả lui hết vào cửa hàng, siêu thị sách, tràn ngập thiệp thủ công mẫu mã mới lạ, vật liệu cao cấp, rồi cây thông, ông già Noel “nhồi bông” giá trên  trời giành cho con nhà giàu , còn dân lao động đâu có biết…Giáng Sinh là cái chi, chỉ đi ngắm qua vậy thôi.
Tối Nô-en, cô Phượng cave ngồi trong quán ca cẩm :
” Nô-en năm nay kỳ thiệt, cả đến ông già Nô-en nghe nói cũng không thèm vô phát quà cho con nít...”
Thằng Bảy xe ôm cất giọng an ủi :
” Chị Phượng đừng buồn, ông già Nô-en phải tới các nước văn minh  Mỹ. Anh, Pháp, Nhật rồi mới tới Việt Nam nghèo nàn lạc hậu .”
Cô Phượng cave cáu kỉnh :
” Thằng Bảy xe ôm biết con mẹ gì, nghèo nàn lạc hậu như Cam-pu- chia ổng cũng vào kìa. Rồi Bắc Hàn, Nam Hàn, Malaisia, Indo, Philippine, Miến Điện…ổng vào tuốt luốt phát quà cho con nít búa xua luôn. Chẳng hiểu sao riêng Việt Nam ổng chưa chịu vào mới kỳ?”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Cô Phượng cave biết vì sao ông già Nô-en không vào nước ta không ? Tại ông sợ kẹt xe đó, kẹt xe như ở Sàigòn tối qua đi phát quà sao được ?”
Cô Phượng cave cãi :
“ Ong già Nô-en đi phát quà bằng xe bay trên trời chớ có chạy trên phố đâu mà sợ kẹt xe ?”
Thằng Bảy xe ôm chen ngang :
“ Đúng rồi, ông già Nô-en bay trên trời đâu có sợ kẹt xe. Ong không vào Việt Nam chẳng qua không … xin được VISA .”
Cô Phượng cave trợn mắt kinh ngạc :
“ Sao ông già Nô-en không xin được VISA ? Đảng, Nhà nước chủ trương mở cửa chào đón các nhà đầu tư mà ?”
Thằng Bảy xe ôm cười lớn :
“ Nhưng ông già Nô-en đâu phải nhà đầu tư ? Ong chỉ mang quà cho con nít thôi. Bởi vậy ổng không thuộc diện ưu tiên,muốn có VISA nhất thiết phải làm thủ tục “đầu tiên” tức “tiền đâu”. Mà ông già Nô-en đâu có biết “văn hoá phong bì” mà nộp tụi nó….”
Ong Tư Gà nướng tham gia :
“ Không phải, năm nay ông già Nô-en không tới Việt Nam không phải vì không xin được VISA , ổng vô bằng xe bay trên trời đâu có qua cửa khẩu sân bay nào mà cần VISA ? Ong không vô Việt Nam là vì ở đây thủ tục nhiêu khê lắm. Muốn trao quà cho con nít phải thông qua Mặt trận Tổ Quốc . Ong mà trực tiếp tới gặp con nít trao quà là công an bắt liền.”
Cô Phượngcave cave cáu :
“ Chú Tư Gà nướng nói gì kỳ ? Ong già Nô-en trao quà cho con nít mắc mớ gì công an bắt?”
Ong Tư Gà nướng cười khì khì :
“ Con Phượng cave sống ở Sàigòn mà chẳng biết con mẹ gì về công an . Tại sao trao quà cho con nít không thông qua Mặt trận ? Muốn tiếp tế cho các phần tử xấu trong nước phải không ? Bởi vậy ông già Nô-en chạy mất tiêu không dám ghé Việt Nam.”
Thằng Bảy xe ôm lắc đầu :
” Trật hết...trật hết...ông già Nô-en không vào Việt Nam không phải vì không xin được VISA hay phát quà cho con nít phải qua mặt trận tổ quốc mà chính là ông sợ mua nhầm phải hàng đều, hàng độc của Trung Quốc lan tràn ngoài chợ phát cho con nít lỡ ra tụi nó có sao thì ông già Nô-en bị Nhà nước Việt Nam truy tố tội đầu độc con nít .”
Cô Phượng cave cười cười :
” Mày nói vậy thì cố nội ông già Nô-en cũng không dám bén mảng tới Việt Nam...”
Cả quán cười ầm ầm.

24-12-2012

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

YÊU THỜI...ĐỒ ĐỂU ( KỲ 22)


                     
                                              (tiếp theo)

Ơ bên trong, thầy Ba Tạ nghe tiếng ổ khoá lạch sạch liền tắt đèn pin, co người như con mèo rình con chuột. Thế rồi ngay khi cánh cửa tủ mở , cái đầu rồi cả nửa người Kim Anh lách vào, thầy bỗng chồm dậy, lôi phắt cô tiểu thư đẩy vào trong rồi lao ra đóng sầp cửa tủ. Trong lúc thầy vặn ổ khoá chợt có tiếng cười và tiếng vỗ tay :
   “ Rất điệu nghệ…rất lành nghề ...tình thế chớ’ mắt đảo ngược …”
Thầy Ba Tạ quay phắt lại :
“ Cô là ai ?”
“ Tôi là bạn của Kim Anh. Thầy giỏi thiệt, giỏi thiệt…”
Lúc này bên trong tủ, Kim Anh đã sờ thấy đống xác rắn bầy nhầy nên càng la lớn. Mặc kệ , coi như không nghe , Tuyết Nhi cứ hết lời tâng bốc ông thầy. Rồi cô cất tiếng hỏi :
“ Nhốt được kẻ địch vào đó , thầy tính làm gì nữa đây ?”
Thầy Ba Tạ ngẩn người nhìn con bé xưng là bạn của Kim Anh, trời ơi, bạn bè hoạn nạn mà cứ cười nói vậy sao ? Nhìn bộ dạng kìa, chỉ cần ngửi qua cũng đủ biết con ông cháu cha cỡ bự. Mẹ cha dòng giống chúng nó, ngay đến tình bạn cũng chẳng có. Nghĩ vậy rồi thầy Ba Tạ sẵng giọng :
“ Tôi mở cho cô ấy ra, doạ chút thôi …”
Tuyết Nhi bỗng đổi giọng oai vệ :
“ Tôi cấm ông không được mở. Ong mà động tới cái khoá tôi gọi cảnh sát 113 tới liền. Tôi sẽ làm chứng ông đang hiếp con nhỏ , tôi tới bất ngờ nên ông nhốt nó vào tủ, công an sẽ còng ông liền. Mà ông biết tôi là ai không ?”
Ong Ba Tạ ngớ người, mẹ kiếp, con nhỏ thuộc giống gì mà trở mặt hung tợn thế. Tuyết Nhi lại gằn giọng :
“ Ba tôi là Giám đốc công an tỉnh biết chưa ? Ong cứ lôi thôi trái lời tôi là tù liền. Tội hiếp dâm là chung thân biết chưa ?”
Ong Ba Tạ sợ đắng cả miệng , ối trời ôi, hết Chủ tịch tỉnh lại tới Giám đốc công an, đụng toàn thứ dữ , phen này chắc chết , đã bảo mà, tránh cho xa cái đám nhà quan này đi. Nghĩ vậy, ông rối rít :
“ Được rồi, được rồi…cô bảo gì tôi làm đó…miễn  đừng gọi bố cô .”
Tuyết Nhi cười giòn giã :
“ Vậy có phải tốt không ?”
Rồi cô gọi vào trong tủ :
“ Kim Anh cứ chịu khó ngồi trong đó, tớ sẽ trừng trị lão này …”
    Cô nhảy tót lên bàn, bắt tréo chân, phì phèo điếu thuốc lá thơm. Không việc gì phải vội, cứ thong thả mà “dzui”, cứ mặc con nhãi Kim Anh nằm trong đó nếm mùi khổ ải cho bõ cái lúc vênh váo ta đây con Chủ tịch trên cơ con gái Giám đốc công an, còn cha già này, nom cái mặt phát ghét, mắt cứ nhìn lom lom vào ngực người ta, đã vậy cho lão … chết luôn . Nghĩ vậy, Tuyết Nhi giơ chân ra :
“ Ê…ông thày, tháo giày ra  …”
Thày Ba Tạ choáng cả người, chẳng còn hiểu ra sao, chỉ lắp bắp :
“ Cô …cô bảo gì kia ạ ?”
“ Còn không nghe hả ? Tháo giày ra…”
Oi trời ôi, trò gì thế này ? Vì cô tiểu thư ngồi trên bàn cao nên ông thầy đành phải quỳ xuống, hai tay run bắn, cởi sợi dây và rút giày ra.
“ Cả vớ nữa…”
Từ thủa lọt lòng , chưa bao giờ ông thày được nâng niu  đôi bàn chân trần, nhỏ nhắn, trắng muốt, hai hàng móng hồng hồng , xinh đẹp đến thế. Bỗng chốc ông cứ như người mộng du, thều thào :
“ Thưa cô…thưa cô…cô cần gì nữa ạ ?”
“ Nghe nói ông truyền điện giỏi lắm, truyền thử tôi coi…”
Thầy cúi xuống trổ hết nghề ra. Thế rồi điện của thầy chẳng thấy đâu, lát sau chỉ thấy thầy run lên bần bật như chính thầy bị điện giật vậy. Đôi mắt cô tiểu thư ánh lên tinh quái :
“ Điện đâu…điện đâu , sao chẳng thấy gì hết ?”
Nói rồi cô nằm ngửa ra trên bàn, ngực ưỡn lên mắt lim dim như chờ đợi. Oi trời ôi, thầy Ba Tạ chẳng còn nghĩ ngợi được gì , thầy cứ từ từ đứng dậy chẳng hề hay biết mình đang làm những gì, thế rồi khi tưởng như đã đặt được chân vào cõi tiên , thầy bỗng la lên chói lói, đau nhói ở cái nơi đang “phê” nhất, rồi ngã bổ ngửa ra trên nền nhà, ngất xỉu. Lát sau, mở mắt ra, thày vẫn thấy cô tiểu thư đang ngồi vắt vẻo trên bàn, phì phèo điếu thuốc.
“ Tỉnh rồi hả ? Vậy may cho thầy …”
Lúc này thầy Ba Tạ mới hiểu đã mắc bẫy cô tiểu thư, vừa xấu hổ, vừa tiếc rẻ, vừa lo sợ, thầy bò dậy, tính bước ra khỏi phòng, lập tức bị cô tiểu thư giơ chân ngăn lại :
“ Thầy đi đâu ?”
“ Tôi về…cô cho tôi về…”
“ Muốn về, thầy phải mang lại giày vớ cho tôi đã…”
Thầy Ba Tạ đành lại phải quỳ xuống làm cái việc ngược với lúc nãy, chỉ khác, thầy không còn cảm thấy ngây ngất như bị điện giật nữa mà cảm thấy nhục. Mẹ kiếp, cái con nặc nô này ước gì bố nó phải đi tù, mẹ nó đi bán bột chiên còn chính nó phải làm gái đứng đường. Lậy trời dân nổi can qua, sập mẹ nó cái chế đố này cho nhà nó táng gia bại liệt . Trong tủ chợt lại có tiếng đập đùng đùng, cô Kim Anh hết chịu nổi , chỉ tiếc cái tủ bằng gỗ lim quá dây không thì cô đã phá tung ra được. Tuyết Nhi ngắm nghía đôi giày đã được buộc giây kỹ càng , mới hất hàm :
“ Thôi thầy về đi , Kim Anh mà xổng ra nó giết thầy…”
Chờ ông thầy lao ra khỏi phòng như gió cuốn, Tuyết Nhi mới thong thả đi tới mở khoá tủ.
“ Thôi ra đi tiểu thư, hạ màn rồi…”
Kim Anh vừa nhao ra khỏi tủ đã tru tréo :
“ Đâu rồi ? Lão già mắc dịch đâu rồi ?”
“ Tớ đã trừng phạt rồi cho lão biến rồi…”
“ Sao cậu không mở cho tớ ra để coi cậu trừng phạt lão thế nào ?”
“Tớ đá cho lão một cú nhớ đời. Thôi cho qua,  thay quần áo còn đi chơi…”
Kim Anh nghiến răng :
“ Lão còn nợ tớ một lời hứa ? Trước sau cũng phải bắt lão thực hiện…”
“ Hứa cái gì vậy ?”
Kim Anh ngây mặt ra nghĩ rồi cười nhoẻn :
“ Tớ cũng chưa nghĩ ra nên bắt lão làm cái gì đây ?”
“ Bắt lão làm bò cho cậu cưỡi đi quanh nhà…”
“ Trời ơi, con nhỏ này lắm sáng kiến thật. Vậy mà tớ không nghĩ ra, tớ chỉ sợ…”
Kim Anh định nói “sợ má” nhưng kìm được, lộ đầu mối , nhất định con nhỏ này sẽ lôi chuyện ra bằng được , mất hết  uy tín phu nhân ông Chủ tịch, bởi vậy cô im bặt, mặt cứ ngẩn ra làm Tuyết Nhi phải gặng :
“ Cậu sợ cái gì ? Lão có cái gì mà sợ ?”
“ À…tớ sợ…ngồi lên lưng lão coi kỳ thấy mồ. Mình là con gái mờ…”
Tuyết Nhi rũ ra cười. Thiệt đúng quê một cục, con nhỏ này bị ba má quản dữ quá,  lúc nào cũng sợ mất uy tín gia đình ông Chủ tịch, phải lôi nó xuống đường học làm người sành điệu thôi. Ngay chiều hôm đó, sau khi đã trang điểm kỹ càng cho Kim Anh, nào váy ngắn, nào áo ba lỗ hở bụng, Tuyết Nhi chở cô chạy thẳng về thành phố. Lúc ghé lại sàn nhảy “Đêm mầu hồng”, trời đã tối mịt , Kim Anh lo lắng :
“ Cậu tính đưa tớ đi đâu đây ?”
“ Đi nhảy chứ đi đâu ?”
“ Liệu mà về không ba má tớ đánh chết…”
Tuyết Nhi cười khẩy, đưa xe cho một thằng nhóc, kéo Kim Anh vào một phòng đèn mờ, ầm ĩ tiếng nhạc, tiếng cười nói và đẩy cô ngồi xuống bàn trong góc, vẫy bồi :
“ Một chai “đen trắng”* tem đen…”
Kim Anh đưa mắt nhìn quanh :
“ Cậu thành thạo ghê, quen đây rồi phải không ?”
  1. Tuyết Nhi cười không trả lời, vẫy một gã thanh niên đang xớ rớ gần đó :
“ Em giao con nhỏ này anh huấn luyện sao nó nhảy thật bốc…”
Kim Anh còn đang ngập ngừng đã bị gã lôi thốc ra sàn nhảy. Thế rồi chỉ sau vài phút “khởi động”, gã đã làm cho Kim Anh quay cuồng như hoá dại. Trong lúc đó ở nhà bà phu nhân đang dọn cơm cho chồng . Ong Chủ tịch nhìn bàn ăn, cáu kỉnh :
“ Con Kim Anh đâu ?”
“ Nó đi với con Nhi , con chú Ba, có viết giấy lại xin phép sinh nhật bạn rồi…”
“ Đã dặn đi đâu thì đi, đúng bữa phải về, bà chớ có chiều nó quá…”
Bà phu nhân cúi mặt xuống xới cơm cho ông y như vợ hiền biết lỗi. Và quả thực, như để tạ lỗi chuyện sáng nay , chiều về bà tranh thủ ghé chợ mua đồ nấu cho ông món canh chua tôm hùm, cá song gói giấy kẽm bỏ lò là hai món ông khoái khẩu. Ngồi ân cần gắp thức ăn cho chồng nhưng đầu cứ vẩn vơ không hiểu ông thầy nhân điện đang ở đâu? Say tít cung thang vầy chẳng biết thằng thư ký có tới đưa thầy về ?  Lúc này bà lại thấy áy náy đã nhốt thầy vào tủ, giá cứ đề thầy nằm trên giường buồng trong cho rã rượu thì có sao ? Không hiểu sáng mai thầy có tới mà sắp lịch học nhân điện không ?
Tối đó, chờ ông chồng đã chui vào phòng làm việc xem xét công văn giấy tờ như mọi khi, bà mới gọi điện cho thằng thư ký. Rõ bực mình, cứ gọi hoài mà máy nó cứ báo “ngoài vòng phủ sóng”, nó đưa thầy đi đâu xa vậy cà ? Quả thực lúc này chàng thư ký đã tắt máy , ngồi nghe ông chú chửi rủa. “ Mày chơi xỏ tao mới đưa tao vào cái hang hùm miệng sói ấy…Tao thề, tao thề không bao giờ đặt chân vào cái nhà ma quái ấy nữa…”. Rồi thầy kể chi ly nào “bà phu nhân bắt truyền điện ngay tại phòng khách” ra sao, nào “bị nhốt trong tủ thế nào”, chỉ riêng có đoạn cởi giầy cho con gái ông Gíam đốc công an rồi bị đá phốc xuống đất là thầy dấu biến. Nói ra làm gì, cái thằng cháu giời đánh này nó cười cho thối mũi. Quả nhiên, mới nghe có bằng ấy chuyện, chàng thư ký đã bò ra cười rũ rượi làm ông chú nổi cáu :
“ Mày còn cười cái gì ?”
“ Ha ha ha…ha ha ha…”

                                 (còn tiếp)

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

NHÀ THƠ NGUYỄN NGUYÊN BẢY :”99 khúc tặng Liên”


               

       Nhà thơ Lý Phương Liên, ngôi sao vụt sáng trên bầu trời thi ca thời …”nay ở trong thơ nên có thép”. Nhưng thơ LPL không có thép, lại có …nước mắt con người. Bởi vậy sau những bài nổi đình đám “ “Ca bình minh”, “Em mơ có một phiên tòa”, “Lời ru với anh”, “Về người cha đã khuất”…đến mức nhà thơ Huy Cận  đã bẻ gãy cây bút trước sự ngỡ ngàng của Lý Phương Liên để tỏ ý bái phục cô gái trẻ, đến bài “ Nghĩ về Thúy Kiều” thì Lý Phương Liên lâm nạn. Lập tức cả một đám bồi bút xúm vào đánh hội chợ . Nào câu từ chưa phù hợp, quá bi lụy, nào đây là thơ…Lê Đạt mượn tên Lý Phương Liên (!) viết những dòng ai oán .
Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy là phu quân Lý Phương Liên mới xuất bản “99 khúc tặng Liên”, xin mời quý vị đọc 3 khúc do tác giả chọn.


069. Mưa Seattle

Mở lòng đi mưa
Đám mây nào vừa mưa qua kinh thành cổ tích của tôi
Biến phố đường thành những khúc sông trôi?

Mở lòng đi mưa
Đám mây nào vừa mưa qua cây gạo làng tôi
Nghe trong mưa tiếng cò con gọi mẹ đứt lời?

Mở lòng đi mưa
Đám mây nào vừa mưa trước cửa nhà tôi
Em gánh mưa về cong vẹt bờ vai

Mưa Seattle không đáp
Giọt dài nhanh chân nước trôi
Giọt ngắn vội vội cười

Mở lòng đi mưa
Sao mưa Seattle thơm ngọt thế
Môi mềm hoa cỏ nếm mưa

Mở lòng đi mưa
Sao ở quê tôi giận chi mưa mặn thế
Mặn như từ biển lên mưa ?
Mở lòng đi mưa
Nguyện cầu tôi có điều gì chưa phải
Chuông mõ thế nào mưa?
Mưa Seattle đột ngột tạnh
Dư âm vọng một tiếng wow
Mưa nơi nao chẳng giống nơi nào…

Vội vàng níu mưa
Mưa không mưa nữa mưa đi xa rồi

Chuông mõ chìm trong tiếng wow     
Mưa nơi nao chẳng giống nơi nào…

 068. Lời tóc cỏ lau

Lời yêu thủ thỉ thì thầm
Kìa em trăng sáng góc sân bụi hồng
Sáng gì sao lại cong cong
Cong cong trăng sáng tận lòng Thái Âm
Mới hay trăng sáng thì thầm
Gió ôm trăng nói gió cầm trăng đi
Gió trăng say đắm đôi khi
Tình rì rầm kể xanh thì cỏ lau
Cỏ lau cười lắt lay đầu
Sông lăn tăn sóng thoa bầu vú trăng
Em em ơi vội tình Hằng
Bờ môi nhím thủ thỉ thầm bờ môi
Một người tỏ yêu nhiều lời
Một người đáp lẳng lặng cười dâng trao
Đêm nào trăng chẳng gương cao
Soi trăng mà đón tình vào vườn yêu


067. Nam mô Tết

1
Mẹ bảo dù đi đâu ở đâu trong cõi âm gian
Ba ngày tết cũng lội về dương gian con cháu
Quất đào ríu rít xuân sao mẹ vẫn chưa về
Cả cha nữa cũng chưa về?
Con bươn bả chạy ra triền sông Cái
Chào gặp bao nhiêu hồn mà không thấy cha đâu
Con xõa tóc cỏ lau thỉnh mẹ
Mẹ hiện về mưa bụi hoa cau

“Năm nay dương gian cầu xin nhiều quá
Cá vàng thả đỏ sông quê
Lửa hóa vàng cháy sôi bến nước
Cầu  nào cũng nức nở, xin nào cũng khóc than
Phật Quán Thế Âm đành phá luật chịu tội
Hạ thủy thêm thuyền Bát Nhã độ chúng sinh
Hồn cha con được gọi về chèo thuyền
Trực biển
Công việc âm gian hư không như vỏ hến
Năm này mất Tết, con ơi!”

Con xuống tóc hoa lau làm đứa trẻ lên mười
Để những lời cầu xin càng bé bỏng
Na mô Phật nam mô thuyền nam mô sóng
Con ăn nóng uống rét suốt năm
Chỉ chờ ba ngày tết
Rước mẹ cha về cho con có mẹ cha
Độ chúng sinh là việc Trời việc Phật
Cát hung cứu giải hà sa
Cớ sao Tết không độ cho nhà nhà sum họp
Không cội nguồn thì đâu còn là Tết
Xin ban cho con phúc mỏng dẫu ba ngày
Nguyện này Nam mô hay là không Nam mô?

Trời bỗng nhiên vần vũ gió cờ
Phật mở ngực bắc những cầu giải yếm
Vẩy nước phúc tiễn hồn cập bến
Tôi đón cha mẹ tôi trong nô nức hồn về
Tạ ơn Trời, Nam mô Phật
Ban cho dương gian
Tết thái hòa sum họp

2
Đem chăn nắng về quê ăn Tết
Xin mưa thật phùn bấc thật buốt
Để chăn ôm mưa rét đem theo
Đắp ấm lòng tha hương hun hút

3
Bể đời mang mang thả ngư cầu long 
Nếu cá được hóa lên trời làm rồng
Xin cho mưa mừng nắng vui cá nhé
Nếu cá được hóa xuống đất
Xin cho bếp nhà nhà đỏ lửa
Nếu cá được hóa thành quả thành hoa
Xin nở vào ngực mẹ môi em

4
Nam mô..
Thôi Tết ở lại quê
Tôi đi miền mưa nắng
Cam Canh cứ vàng cho thắm yếm
Bưởi Diễn cứ ngọt cho son môi
Mặt Tây Hồ cứ hoan run rẩy sóng
Đào cứ phai về gốc luân hồi
Giếng Đường Lâm cứ vơi đầy năm tháng
Sông Cái cứ xuôi thuyền cỏ mật tỉnh mê…

Nam mô, thôi Tết ở lại quê
Tôi đi miền mưa nắng
Thơ cứ thả lên trời cho Văn Miếu ấm
Chữ ông đồ cứ đóng oản đồ xôi
Nhương Trần cứ chấm com lời đen trắng
Cỏ hoa khuây khỏa phận người
Quyền Văn Minh cứ thổi nhạc lên trời
Hoa Sữa chữ tình thương giận
Nam mô Tết..
Xin đừng tội nghiệp thân tôi
Tuổi già lẫm chẫm
Còn võng theo mưa phùn rét đậm
Tha hương

Tràng hạt lần tay mò mẫm
Thăng hồn gõ mõ tụng chuông
Nam mô Tết
Xin hiện về Tấm Cám quê tôi

Tết Nhâm Thìn 2012


 Sự thăng hoa và bút pháp hiện đại trong
                                                     "99 khúc tặng Liên"(*) 
                                                      
                                                          Nguyễn Minh Khiêm

Mới. Lạ. Mở. Gợi. Dạt dào cảm hứng. Ý tứ mênh mang. Chữ như mây vỡ. Rất thực mà ảo. Rất ảo mà thực. Tình chắp cánh cho trí bay lên. Trí làm cho tình găm lòng người ở lại. Ông viết như mê. Ông viết như say. Ông viết như không. Ông viết như chơi. Không khuôn mẫu. Không lập lại. Biến hóa. Sáng tạo. Sáng tạo mà không cứng. Nhuần nhuyễn. Đầy chất thơ. Đầy chất thi sĩ. Đó là cảm nhận bao trùm nhất khi đọc “ 99 khúc tặng Liên” của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy.
“ 99 khúc tặng Liên” mỗi khúc là một tâm trạng. Mỗi khúc là một gửi gắm. Mỗi khúc là một góc nhìn, trải nghiệm, suy ngẫm. Dù ông “Nam mô trời”, ông “Nam mô đất” hay “ Nam mô người”, dù ông “ Viết trên giường bệnh”, “ Bất ngờ Picasso”, “ Tụng trăm ngày bạn” hay ông viết “ Lục bát chiều”, “ Từ Thức bơ vơ”…Khúc nào cũng da diết nỗi đời, nỗi người, nỗi nhân tình thế thái. Phải trường cảm xúc, trường vốn sống, từng trải, giàu trí tuệ, hiểu thơ mới, sâu thơ cũ mới đọc được thơ ông. Ông có nhiều câu thơ đẹp. Hãy đọc những câu thơ này của ông: “ Tóc lau ngồi nín cời than” ( …); “ Xin mẹ hãy nghỉ tay dệt nắng/ …/ Xin mẹ về đầu cầu dải yêm” ; “ Xin cha cưỡi thuyền cỏ mật/ Về lại bến quê Sông Cái Mỉm Cười” ( Tụng trăm ngày bạn ). Đẹp đến sững sờ. Đọc một lần cứ muốn đọc lại. Dưới con chữ có cái gì đó ngời lên lấp lánh. Dư âm không hết. Hệt như uống chén trà ngon. Cạn chén rồi mà cổ họng cứ ngọt mãi.
Cùng mô típ ấy, trong bài “ Nam mô Tết”, ông viết: “ Thơ cứ thả lên trời cho Văn Miếu ấm/ Chữ ông đồ cứ đóng oản đồ xôi”. Thơ ông giàu có về hình ảnh. Hình ảnh này gọi hình ảnh kia. Hình ảnh chồng lợp lên nhau, giao thoa nhau. Một tầng. Hai tầng. Nhiều tầng. Câu chữ sống động. Sự biểu cảm phong phú. Đa thanh. Đa sắc. Nó như một bức tranh trừu tượng, ấn tượng, siêu thực. Cảm được cái hay. Cảm được cái đẹp. Nhưng chỉ ra từng cái hay cụ thể, chỉ ra từng đẹp cụ thể thì khó. Tách bóc ra từng lớp lang ý nghĩa, từng lớp lang nghệ thuật thì khó. Cách viết của ông không giống ai. Không gồng lên. Không cố tạo khác biệt. Ấy thế mà trộn vào đâu cũng không lẫn. Rất khác biệt. Có người cả đời muốn tạo được dấu ấn riêng, muốn được thấy cái thằng mình đứng riêng ra nhưng lại cứ nhập nhòa trong bóng người khác. Nhưng “99 khúc tặng Liên” của Nguyễn Nguyên Bảy có nhãn mác, có hương vị đặc trưng riêng biêt. Thơ ông bốn tiếng có. Năm tiếng có. Lục bát có. Vắt dòng, leo dòng có. Tự do có. Thơ văn xuôi có. Nó không tách bạch nhau. Nó lồng quện trong nhau. Hình như ông không định vị chữ, không định vị câu. Ông để cho con chữ tự do bung nở. Câu là chỗ tận cùng sung mãn của chữ. Nếu đọc không kỹ, ta rất dễ cho rằng ông dùng chữ dễ dãi, đôi chỗ nôm na, câu lỏng, ý không chặt, trục logic mờ. Nhưng nhìn lại tổng quát 99 khúc trong tập mới thấy khả năng làm chủ ngôn ngữ tuyệt vời của ông. Nó tung tẩy. Nó nhảy múa. Nó bay lượn. Nó lặn hụp. Nó làm chủ mọi góc độ, làm chủ mọi hoàn cảnh. Tất cả chuyển động mãnh liệt, chặt chẽ quanh một cái trục logic duy nhất là tâm hồn ông, xúc cảm của ông. Nó liên kết bởi logic tâm hồn ông. Tất cả ngôn ngữ, hình ảnh, giai điệu chuyển động quanh cải trục vĩnh cửu của thi ca ấy.
Không thấy ông tuyên ngôn gì về thơ. Chỉ có hai câu thơ văn xuôi đầu tập và thỉnh thoảng điểm lại ở một trang nào đó như một lời đề Từ “ Trả lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non../ Là khi anh nói về em. Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bùng. Trên cành một giọt sương rung. Gió nhẹ vô cùng thổi mãi không rơi”…Cách hành văn này, kết cấu này, lập ngôn này chi phối toàn bộ “ 99 khúc tặng Liên”. Đậm nhất là bảy khúc “ Nhật ký Seattle”. Nói là lạ hẳn thì không lạ hẳn. Nói là quen thì không quen hẳn. Câu thơ vừa có phong vị đồng dao, vừa có phong vị ca dao tinh tế trong Quan Họ bắc Ninh, vừa có cái suồng sã mộc mạc duỗi dài thể thơ sáu tám của những điệu vọng cổ Nam Bộ. Từng chữ thì rất Việt. Nhưng thiết chế ngôn ngữ lại rất Tây. Nếu không thẩm thấu thơ văn xuôi của Hàn mặc tử, không thẩm thấu các trước tác của Franz KafKa, không thẩm thấu Thơ Dâng của Rabindranat Tagore tôi tin, Nguyễn Nguyên Bảy không viết được bảy khúc Nhật Ký Seattle thăng hoa với bút pháp hiện đại thế. Tôi cứ bị hút vào những câu thơ thế này : “ Đêm trắng, nghĩa bóng trắng như tờ giấy. Thổi chữ vào giấy. Thổi chay./ Không ra văn vần không ra văn xuôi. Chỉ thấy chữ múa chữ hát chữ hôn chữ làm tình chữ gục đầu chữ khóc/ Hello những chữ là chữ. Đầy một hồn. Nghĩa đen là đầy một óc/ Thế mà sáng hoe sáng hoe chỉ còn thấy duy nhất một từ Hello em” ( Hello! )/…/ “ Trời Seattle trong như nước mắt. Nắng Seattle lịm như rượu vang. Gió Seattle thơm như hồn hoa. Giôn bật nói. Chúng ta không bao giờ (nevơ) hello chiến tranh. Nevơ. Nevơ…/…/ Bát canh cần từ Việt nam sang thưa với bố chồng, con là họa sĩ. Con muốn vẽ nước Mỹ của chồng con chỉ bằng một chữ hello”( Hello). Câu thơ như một nốt nhạc có dấu trường ngân. Nó không phải là thứ phù hợp với ca sĩ đoản giọng.
Đọc bảy khúc Nhật ký Seattle của ông chạm được vào nhiều thứ. Tình yêu có. Tình người có. Tình đời có. Nhân văn có. Văn hóa có. Niếm tự hào dân tộc có. Nước Mỹ có. Châu Phi có. Châu Âu có. Châu Á có. Người Việt Nam tha phương có. Đành rằng Nhật ký Seattle cái vỏ là ghi chép, là tốc ký cái những giác quan nhạy bén nhất của ông chớp được, nhưng nhiều câu nhói lắm. Nhói cho cả một dân tộc: “ Tôi nhặt từng hạt buồn còn vương trong mắt em. Xếp cẩn thận những hạt buồn vào bị cói. Đeo lên vai…”/…/ Lạc lõng chưa, chúng tôi đến chợ vai quảy bị cói hạt buồn”./…/ “ Than thở chỉ vừa lóe đã thấy cô gái da trắng, tóc vàng phủ bờ vai nõn, nhìn chằm chằm mắt vợ tôi nài nỉ xin đổi hạt buồn/ Để làm gì? Để đêm nay, sau một ngày hội hè vui đẫm, tôi có chốn nhớ về buổi chiều đen thẫm ấy, buổi chiều định mệnh tôi xuống tàu chạy trốn Vacxava tìm đến thiên đường Mỹ. Chỉ những hạt buồn mới giúp tôi trở về gặp lại tiếc buồn đánh mất hôm qua”. Và nẫu nuột khi trong lòng trống rỗng, ông buông một câu “ Buồn là đặc sản Việt cớ sao ông bà đem ra chợ trời rao bán?”/…/ “ Còn ngươi, ngươi đã sỉ nhục cây đàn cò vốn sinh ra cho người khiếm thị, lạy ông đi qua lạy bà đi lại, xót thương kẻ mù lòa, ngươi sáng mắt, ngươi còn tay còn chân, ngươi còn lưỡi, vậy mà ngươi lại mượn nỗi buồn đui mù hèn hạ đổi lấy chất dư thừa thương hại./ . Nhị xẩm cúi đầu câm lạnh”. ( Bán buồn ở Chợ Trời Seattle”. Đó là những câu thơ thức tỉnh không chỉ một con người. Nó động đến cả một dân tộc.
Ông không tuyên ngôn nhưng hình như với ông, niêm luật vần điệu chặt chẽ truyền thống cũ là tĩnh; thể thơ bốn, năm, bảy tiếng nghiêm túc , bất biến là tĩnh. Ông không chấp nhận cái tĩnh, không chấp nhận cái công thức, cái khuôn mấu, khuôn mẫu đến mòn vẹt, đến nhàm chán, đến bảo thủ. Cuộc sống rất động. Tình yêu rất động. Tự nhiên rất động. Tâm trạng, nỗi niềm con người rất động. Thơ cũng phải rất động. Quan trọng hơn tất cả là, ông có cái nhìn rất động. Chính cái nhìn rất động ấy giúp thơ ông không lập lại, không bất biến, không xỉa vào vết xe người khác.
Ngay đọc tên tập thơ “ 99 khúc tặng Liên” ta cứ tưởng cái tên Lý Phương Liên, nhà thơ, người vợ yêu quý của ông sẽ tràn ngập câu chữ như cái tên Ensa tràn ngập trong thơ Aragon. Nhưng không. “99 khúc tặng Liên” là ông tặng trọn vẹn tâm hồn ông, trí tuệ ông, ký ức ông, sự chiêm nghiệm tinh túy, sự thăng hoa của ông. Đấy cũng là một độc đáo.

Thanh Hóa. Ngày 22.12.2012
(*) NXB Văn Học ấn hành 10.2012

Bài Nguyễn Minh Khiêm/ Tác giả gửi bài

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ ( KỲ 3 )


                                  (tiếp theo)

       

Bác Ba Phi cấm hút thuốc từ sáng, hít lấy hít  để  điếu ZET vừa mồi, lên giọng ca cẩm :
“ Í mèn ôi, tưởng vào lãnh sự quán Mỹ ngồi phòng khách, có máy lạnh, có xa lông, có nước COCA…Ai ngờ chẳng khác gì ngồi chờ mua vé  bến ô tô. Nhà mái tôn, người đông như kiến, chờ đợi chẳng khác gì nhận phát chẩn, nóng như cái lò bánh tráng mà chỉ có cái quạt trần, mà khi phỏng vấn mình đâu có được ngồi, đứng ngoài như người mua vé ô tô vậy, nhân viên sứ quán ngồi sau tấm kính dầy tổ chảng, nó hỏi câu nào mình trả lời câu đó, không có nói ra ngoài  câu hỏi….”
Cô Út sốt ruột :
“ Vậy rồi nó hỏi tía sao ?”
Bác Ba Phi trợn mắt :
“ Nó hỏi ông định ở Mỹ bao lâu ? Tao bảo lâu mau tuỳ con gái tôi . Nó rảnh rang đưa thăm nhiều nơi thì lâu. Mà họ hàng nhà tôi ở bển cũng đông, thế nào chẳng mời...”
Cô tóc tém chen ngang :
“ Bác trả lời vậy trượt vỏ chuối. Mỹ bao giờ cũng đòi cụ thể, thăm Mỹ nhiêu ngày, từ ngày mấy đến ngày mấy...”
Cô Út bực mình :
“ Nó còn hỏi gì nữa không ?”
“ Còn nhiều mà con nhỏ phiên dịch nói tiếng Huế khó nghe quá tao cứ cãi  bừa...”
Cô tóc tém lại la lên :
“ Í chết mẹ...Vào đó mà bác cãi lại nhân viên sứ quán thì nó đánh trượt .”
Cô tóc tém nhìn cái hộ chiếu trong tay bác Ba Phi , reo lên :
“ Thôi đúng rồi...nó đánh trượt bác rồi.”
Cố Út bực mình :
“ Tía tôi chưa nói sao cô biết ?”
Cô tóc tém láu táu :
“ Nó mà OK thì nó sẽ giữ lại hộ chiếu in dấu VISA vào đó và  cho mình cái giấy hẹn. Còn từ chối thì nó trả hộ chiếu liền...”
Cô Ut quay sang hỏi bố :
“ Vậy họ trả lời tía sao ?”
Bác Ba Phi lắc quày quạy :
“ Nó cứ “mô rứa …mô rửa…” vào tai mà tao đâu có biết nó nói gì ?”
Cô gái tóc tém cười :
“ Bác có nghe thấy ông Mỹ nói :”si iu ờ ghên” không ?”
Bác Ba Phi lắc quày quạy :
“ Tao thấy chả eo eo như mèo kêu, đâu  biết chả nói gì ?”
“ “Si iu ờ ghên” là hẹn gặp lại đó bác !”
Bác ba Phi lắc đầu :
“ Không , không thấy ờ ghên ờ gheo gì hết. Chỉ thấy con nhỏ đưa tao cái hộ chiếu, nói cái gì đó, rồi vẫy tay ra hiệu tao đi...À … nó có nói buổi phỏng vấn đã kết thúc...”
Cô Ut thở dài:
“ Vậy chắc nó đánh trượt tía rồi...”
Cô tóc tém đế theo :
“ Trượt là cái chắc ...”
Cô Út thở dài, cầm sổ hộ chiếu của bố mở ra tìm mãi chẳng thấy dấu VISA đâu, chỉ thấy đóng dấu đỏ hàng chữ :” APPLICATION RECEIVED”. Cô tóc tém reo lên :
“ Đó…nó đóng dấu vậy là nó từ chối đó...”
Bác Ba Phi quay sang hỏi con gái  :
“ Nó không cấp VISA vậy có trả lại  trăm rưởi đô không ?”
Cô tóc tém láu táu :
“ Sức mấy. Lần sau bác muốn xin phỏng vấn lại , bác vẫn phải đóng  nữa…”
Bác Ba Phi chưởi  thề :
“ Con mẹ nó, người đông như kiến vậy, mỗi ngày nó thu của người ta biết bao nhiêu tiền ! Vậy mà tao thấy phần nhiều bị nó trả lại hộ chiếu như tao thôi. Có thấy mấy ai được giữ lại để cấp VISA đâu…”
Cô tóc tém bật cười :
“ Thôi đợi tháng sau, bác lên đây đóng trăm rưởi đô la để xin  phỏng vấn nữa , biết đâu lần sau có cơ may…”
Bác Ba Phi nổi tự ái :
“ Thôi thôi, có dư tiền tao cũng chẳng thèm. Trăm rưởi đô đổi ra cả ba triệu mấy bạc chứ đâu có ít .Vậy mà nó nuốt không của người ta. Thôi về, không đi Mỹ Mẽo gì nữa…”
Cô Út đành vẫy taxi  đưa bố về nhà. Vừa tới cửa vợ chồng thằng Đậu mừng rỡ chạy ra đón, reo to :
“ Hoan hô nội sắp đi Mỹ....”
Bác Ba Phi nổi cáu :
“ Mỹ Mẽo cái con mẹ mày. Từ nay tao cấm, tao cấm...tao không có đi đâu hết...”
Vợ chồng thằng Đậu cụt cả hứng im thin thít. Mãi tối, chờ bác Ba Phi vào phòng ngủ rồi, hai đứa mới hỏi cô Út :
“ Làm sao nội nổi đoá lên vầy cô Út ?”
Cô Út liếc vào trong, yên tâm bố đã ngủ, mới thì thào:
“ Mỹ nó từ chối không cấp visa cho nội . Nội đang bực chuyện đó, không đứa nào được nhắc tới nữa...”
Mấy hôm sau, cô Út đi taxi lên Sàigòn để bay về Mỹ. Cả nhà ra tiễn tận sân bay Tân Sơn Nhứt. Trước khi vào phòng cách ly lên máy bay, cô bảo bác Ba Phi :
“Tía yên tâm, sớm muộn gì  con sẽ cũng đưa tía đi thăm Mỹ một phen...”
Chuyện đi thăm Mỹ của bác Ba Phi coi như đã “chìm xuồng”. Ai nhắc tới, bác lại ca cẩm :
“ Lớn đầu mà dại ...mất toi máy triệu bạc chẳng ích gì  ...”
Mãi hai năm sau, cô Út mới lại về Việt Nam. Lần này cô bảo bác Ba Phi :
" Chồng con mới xin được cho tía cái giấy Công ty của ảnh mời sang Mỹ tham quan nhà máy..."
Bác Ba Phi giãy nảy :
" Í thôi thôi...tao ngán tới lãnh sự quán phỏng vấn phỏng véo quá rồi. Tốn tiền vô ích. Mà tao nghe nói ai đã bị từ chối thì lần sau nó cũng từ chối luôn, chỉ tổ mất tiền toi ..."
Con vợ thằng Đậu đứng bên, hít hà :
" Í chèn ơi, mỗi ngày cả mấy trăm người tới xin phỏng vấn, vậy mỗi ngày nó lời cả mấy chục ngàn đôla ..."
Cô Út lắc đầu :
" Nhằm nhò gì. Số đó với Mỹ chỉ bàng tiền lẻ. Mà kỳ này chắc ăn rồi tía. Chồng con là kỹ sư  Mỹ làm ở Công ty chế tạo máy bay, uy tín lớn lắm. Nó mời thì nhất định lãnh sự quán phải cho tía đi."
Bác Ba Phi vẫn khăng khăng :
" Chèn đéc ơi, chồng mày tiếng Mỹ, tao tiếng Việt , bố vợ con rể kẻ nói xuôi  người nói ngược, gặp nhau trò chuyện làm sao ?”
Cô Út cười rũ :
“ Tía yên tâm , có con phiên dịch. Mà chồng con hiền khô à ? Bảo gì cũng gật, nói gì cũng cười .”
Bác Ba Phi trợn mắt :
“ Vậy hoá ra chồng mày là cái bị thịt hả ? Đàn ông như cột cái trong nhà , phải biết cầm cương lèo lái mọi việc chớ lại bảo gì cũng gật, nói gì cũng cười thì làm chủ gia đình sao ?”
Cô Út  cười phá :
“ Oh My God...Xưa rồi tía... Cái thời đàn ông làm chủ gia đình xưa rồi. Bây giờ bình đẳng, cộng đồng trách nhiệm, cùng lo, cùng làm... Ở Mỹ nhiều cặp vợ chồng còn có tài khoản riêng nữa kìa ?”
Bác Ba Phi ngạc nhiên :
“ Vậy hồn ai nấy giữ à ? Vậy mà cũng gọi vợ chồng ?”
“ Xã hội văn minh nó vậy đó tía. Không có cái kiểu chồng chuá vợ tôi như ở Việt Nam đâu. Mà thôi ... không cãi lý với tía nữa. Tía sửa soạn mấy hôm nữa đi phỏng vấn lấy VISA..."
Bác Ba Phi nín lặng. Vậy là bác đã chịu nghe theo lời cô Út rồi. Hôm sau cô lên Sàigòn đóng 150 USD cho City Bank lấy giấy hẹn cho bác Ba Phi. Lần này chắc mẩm cũng trượt vỏ chuối nên chẳng thiết sửa sang tóc tai, đánh bộ bà ba xuềnh xoàng ra mắt nhân viên lãnh sự.
Vậy nhưng khác lần trước, lần này ông Mỹ mới đọc qua thư mời của Công ty chế tạo máy bay đã cười thân thiện rồi. Sang phần phỏng vấn, ông ta hỏi tên con rể bác Ba Phi là gì, mặc dầu đã được cô Út dặn dò kỹ lưỡng, nhưng cuống quá, quên béng mất, bác đáp bừa :
" Mì tôm..."
Cô phiên dịch cười  rú. Ông Mỹ chắc cũng rành tiếng Việt lắm cũng bật cười. Cô phiên dịch cười xong, nhắc bác :
" Bác đọc ngược lại đi...mì tôm đọc ngược lại là gì..."
Bác Ba Phi vỗ trán :
" À phải rồi...tôm mì..."
Ông Mỹ gật gật  :
" Tommy...OK...Tommy..."
Nói xong ông gõ lia lịa vào bàn phím máy tính , kẹp hộ chiếu bác Ba Phi vào tập hồ sơ cất vào góc bàn rồi đưa cho bác cái giấy hẹn. Cô phiên dịch thấy bác cầm mảnh giấy cứ đứng tần ngần , vội nhắc :
" Bác xong rồi...bác được cấp VISA đi thăm Mỹ rồi..."
Bác Ba Phi chợt sướng run cả người. ừa...có vậy chớ...hoá ra cái lão Mỹ này cũng biết điều. Nghĩ vậy, bác dõng dạc :
" Méc xì bố cu..."
Cô phiên dịch sửa lại :
" Vào đây không được nói tiếng Pháp, nói tiếng Anh "thánh kiu” kìa ."
Hoá ra người Pháp đã đi khỏi Việt Nam từ tám đời mà vẫn còn để lại dấu tích trong người già như bác Ba Phi.
Tin bác Ba Phi đã có VISA đi Mỹ, chỉ hôm trước hôm sau, đã bay khắp các quán cà phê, các bàn bi da trong xóm. Người thì bảo thôi từ nay không còn được thấy bác ngồi ngất ngưởng quán nhậu giữa làng, lai rai ba xị đế với trái cóc chấm mắm quẹt nữa, bác sang Mỹ sướng bằng lên tiên sức mấy bác về . Người nói ngược lại, sang bển bác Ba Phi giỏi lắm ở được một tuần, xe hơi chẳng biết lái, vợ chồng con cái nhà cô Út sớm tối vắng nhà, suốt ngày đêm ru rú trong phòng, mở tivi coi thì lại không biết tiếng Anh, cải lương chẳng có , đánh cờ là cái món bác rất ham cũng không , sống vầy buồn chết sống sao được .
Có lần con vợ thằng Đậu ra chợ mua đủ các thứ khô cá mòi, cá đuối, cá lóc, cá kèo; mấy chị bán hàng xúm lại hỏi :
" Bộ nhà mày sửa soạn chạy lụt sao mua lắm  khô vậy mầy ?"
Con vợ thằng  Đậu vênh mặt  :
" Lụt đâu lụt ! Tôi mua cho nội mang đi Mỹ đó..."
Chị bán hàng tròn mắt :
" Ghê quá ta ! Bộ ở bển không có khô cá sao ?"
Con vợ thằng Đậu dài giọng :
" Ở bển gì cũng có hết . Nhưng cô Út bảo người ta lo lên gân máu nên kiêng  ăn mặn, không ai dám ăn khô cá hết. Bởi vậy nội tôi sợ kiếm không ra mới bắt tôi mua để ổng mang đi chắc ăn."
" Ra vậy, mày phải mua cho nội mày cả mắm nữa, tao thấy ổng khoái ba cái món đó lắm....".
Con vợ thằng Đậu gật đầu :
" Có chớ...mắm cá trích, mắm cá cơm, mắm tôm chua, mắm bồ hóc...gì cũng mua hết ..."
Ôi chao ôi con vợ thằng Đậu chở về hai cái sọt to tổ chảng toàn là khô cá với mắm làm bác Ba Phi la làng :
" í trời ôi, sao mày mua nhiều dữ vậy , bộ mày tưởng tao sang mở tiệm đồ khô ở Mỹ sao ?"
" Cô Út bảo con mua chớ bộ..."
" Mua thì phải rồi, nhưng mua mỗi thứ chừng nửa ký đủ rồi..."
Con vợ thằng Đậu gân cổ lên cãi :
" Cô Út đưa tờ trăm đô, đổi cho tiệm vàng bà Cả Mập được những hai triệu tám mươi lăm đồng lận. Bởi vậy mua được ngần này phải rồi..."
Cô Út thở hắt ra :
" Mua mỗi thứ một ít được rồi, còn dư tiền cầm về. Tao có bảo mày mua bằng hết cả tờ trăm đô đâu..."
Bác Ba Phi quát :
" Mày còn cãi nữa hả ? Mày có chạy ra chợ mua cho tao cái thùng gỗ không ? Nhớ mua cái thùng lớn nghen ?"

                       (còn tiếp)