Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 34)



                          
                                        (tiếp theo)

Hoá ra từ thời đó đã hiển hiện loại người mới xuất hiện sau cách mạng :“ cán bộ” . Tham lam vật chất, khăng khăng giữ ghế, sẵn sàng hạ độc thủ  bất kỳ ai động chạm tới ghế của mình . Hình ảnh ông Thường trực uỷ ban xã đúng là chân dung tiền bối của quan chức các cấp thời bây giờ. Có điều , ông nhà văn chỉ dám dựng nhân vật đó như trường hợp cá biệt, “con sâu làm rầu nồi canh”,  còn tuyệt đại đa số cán bộ ta vẫn chí công vô tư, hết lòng vì nước vì dân.Và tin tưởng sắt đá loại “cán bộ tiêu cực” như Thuỵ nhất định sẽ bị đào thải :
“ Hơn nửa năm nay …Thuỵ không còn được đảng viên trong chi bộ tín nhiệm nữa. Kỳ bầu ban chi uỷ vừa qua, Thuỵ chỉ được  vỏn vẹn có hai phiếu, một lá của Môn và một nữa chắc do Thuỵ viết…”
Nhà văn tuyệt nhiên không dám thừa nhận loại cán bộ như Thuỵ mới chính là “nhân vật thời đại” . Nó như ký sinh trùng ngày càng sinh sôi nảy nở, hằng hà sa số, sống bám trên cơ thể dân tộc, đục khoét, ăn cắp từ tiền bạc, địa vị xã hội tới tài nguyên, môi trường, phá hoại những di sản quá khứ và làm băng hoại những giá trị tinh thần và đạo đức xã hội.
Sau khi cải cách ruộng đất phá tan đạo lý cổ truyền làng quê Việt Nam, vài năm sau Đảng lại rầm rộ phát động hợp tác hoá nông nghiệp chỉ  hơn 20 năm sau đã phá huỷ gần hết năng lực canh tác trên ruộng đồng .
Tuy nhiên mãi tới năm 1986, tính chất phá hoại đã rõ rành rành, cái chết nó gây ra đã tới sau lưng, Đảng mới ngấm ngầm xoá bỏ nó bằng việc trả lại ruộng đất cho dân và giải tán các hợp tác xã nông nghiệp.
Sự sụp đổ của công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp kéo theo cái chết hàng loạt tác phẩm lừng lẫy  một thời : Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm  của Đào Vũ, Đất làng của Nguyễn thị Ngọc Túvà cả Xung đột ( tập 2) của Nguyễn Khải…. Bao nhiêu thành tích, bao nhiêu tính ưu việt , bao nhiêu đổi thay tích cực của bộ mặt nông thôn, bao nhiêu đổi đời sung sướng  của người nông dân được  các nhà văn tô vẽ, tâng bốc lên mây xanh bỗng chốc tan tành  sương khói bới cái nghị quyết “ khoán sản phẩm” của Đảng  - thực chất là sự cáo chung cho “ lề lối làm ăn tập thể”, cho “hợp tác xã nông nghiệp” mà suốt mấy chục năm các nhà văn của Đảng ra sức tô vẽ. 
Trong Xung đột – phần II, “vào ngày lễ mở đầu tháng đức Mẹ  cũng là ngày thứ ba của cuộc “vận động hợp tác hoá” sôi nổi, rầm rộ suốt tám xóm trong xã. Mỗi xóm thành lập một ban vận động gồm những người trong ban quản trị hợp tác xã cũ, đội trưởng đội sản xuất và một vài người mới nữa. Tiếng trống , tiếng loa nổi lên từ lúc chuông nhất và chỉ tắt đi vào khoảng gần nửa đêm…”
Chống đối lại cuộc vận động đó, theo ông nhà văn, tất nhiên chỉ có…nhà thờ :
“Tiếng loa của đức chúa Trời  và lời giảng hùng hồn của cha Lân“ đối lập với “tiếng trống của người thế gian và lời lẽ vận động đầy sức thuyết phục của cán bộ xã “ làm cho “cuộc sống ở thôn Hỗ cứ náo động suốt đêm ngày. Không có tiếng súng nổ nhưng tâm trạng con người thì giống hệt như trong một trận chiến đấu. Cũng có những người kiên quyết và những kẻ dao động, tin tưởng và bi quan, phẫn nộ và bình tĩnh…”
Đó là cuộc chiến tranh được ông nhà văn “tô vẽ” giữa “nhà thờ” và chính quyền cộng sản đại diện là mấy ông cán bộ xã . “ Tiếng loa của đức chúa trời “ chẳng thấy đâu nhưng lời giảng được cho là của cha :
“ Hiện nay ma quỷ đang dùng thóc gạo làm chước độc để mê hoặc linh hồn các con. Song các con hãy nhớ lời Chúa đã từng phán tỏ tường rằng : bay lo ngày mai mà làm chi, đến ngày mai sẽ hay , bởi chưng sự khốn khó ngày nào đã đủ cho ngày ấy…”
không những chẳng lọt  được vào tai giáo dân :
“ không nói đâu xa xem như vợ chống thằng Quảng kìa, chồng vay hợp tác xã được  mấy chục cân thóc gánh về, vợ đã mặc áo ra nhà thờ thấy thóc cởi cả áo ra, chồng xay vợ sàng  hì hụi từ chập tối đến nửa đêm, vừa làm vừa đùa bỡn nhau dễ còn vui hơn cả lễ Phục Sinh…”
mà còn bị bôi bác :
“Ấy vậy mà cha mới nói là ma quỷ dùng thóc gạo cám dỗ nên người thế gian mới bỏ cả đức tin, bỏ cả Chúa…”
Vậy là “cha” thua một cách dễ dàng, nông dân ào ào nộp đơn vào hợp tác xã . Ông nhà văn diễn tả một ông bố sai con viết đơn với nhiệt tình và lòng thành kính  như viết đơn cho Chúa Giê xu xin lên …thiên đàng  :
“ Vui, này lấy giấy bút ra đây tao muốn nhờ mày một việc…”
Cô con gái lấy tờ giấy mực lem luốc , lập tức bị ông bố mắng :
“ Mày coi khinh bố mày thế hả con , không nỡ cho bố một tờ giấy đẹp đẽ ư ? Đã dùng vào việc cao trọng thì chớ lấy những thứ dơ dáy. .”
Rồi ông quay sang vợ :
“ Cả đời chỉ có một lần. Bà hiểu  cái việc tôi nói là việc gì rồi chứ ?”
và lệnh cho con :
“ Lấy vạt áo lau sạch cái ngòi bút đi thì nét nó mới thanh được. Bắt đầu như thế nào nhỉ ? Việt Nam dân chủ cộng hoà… năm thứ mười lắm…”
Trong thực tế, lùa được nông dân vào hợp tác xã là một việc phải thúc ép, cưỡng chế vậy mà ông nhà văn “tâng” lên thành một thứ ý nguyện thiết tha của dân làng . Ông còn “mượn mồm” một bà nhà quê để ca ngợi cái ưu việt của lề lối “ làm ăn tập thể” :
“ Như nhà tôi chỉ riêng khoán cày khoán bừa hai mẫu cũng mất đứt hai chục thóc rồi.Cái trò đem trâu cày ruộng nhà người đến mùa lấy thóc thì làm kỹ sao được…Còn vụ vừa rồi ai cày ai bừa mặc ai, chị em chúng tôi cứ ra công cấy, làm chung ăn chung, anh  làm dối thì cái cót thóc của anh cũng ít…”
Ca ngợi “ làm chung ăn chung” như vậy, ông nhà văn đâu có biết  cái kiểu “tập thể hoá “ đó khác gì “ cha chung không ai khóc” khiến đồng ruộng bỏ hoang, mùa màng thất bát khiến Đảng lại phải giải tán “làm chung” trả ruộng đất về cho ai nấy làm. Ngày đó chắc ông Nguyễn Khải chưa nhận ra hoặc nhận ra mà vẫn giả ngu, vẫn nhiệt tình ca ngợi cái lợi của hợp tác xã qua mắt bà nông dân :
“ Tôi chẳng gì cũng nhiều tuổi hơn các chị, cái khổ cái sướng đã trải qua, trước khi vào hợp tác xã tôi cũng tính toán chán, nếu không có lợi thì tôi vào đầu làm gì…Lạy Chúa, từ ngày biết làm ngươiø tới giò, chỉ có mỗi vụ chiêm vừa rồi vào hợp tác tôi mới nhàn nhàn cái thân chút ít…”
Tất nhiên vào hợp tác xã không chỉ đánh trống ghi tên, khối người lừng khừng , đắn  đo để rồi  :
“ Không vào cũng chẳng được, họ vác trống vác loa đến tận đầu nhà kể lể, than vãn nghe nẫu cả ruột chứ dễ được yên ư ? Hết tốp cán bộ này ra, lại đến tốp khác nối chân  vào. Ngồi tiếp chuyện  các ông ấy thì mất ngày mất buổi , lánh mặt lại sợ họ bảo mình có ý tứ gì…”
Vậy là cả làng cả tổng đều ‘tiến bộ”, đều thành xã viên hợp tác xã chỉ trừ ra có mỗi …ông linh mục,  khiến bà con phàn nàn :
“ Ông Tam ạ, tôi xem ra các cha mà tiến bộ được như mình thật là khó. Mình theo chế độ mới nào có mất gì, chỉ được thôi, còn các ông ấy mà theo ta thì túi tiền vơi đi quá nửa…”
Thế rồi ông nhà văn lấy ‘dạ tiểu nhân đo lòng quân tử”, lấy cái “tâm lúc nào cũng lo ăn” để phân tích các cha tinh thần :
“ Tôi tính cho các ông các bà nghe nhá. Trước kia ở tổng này có ba chục thằng địa chủ , đứa nào hàng năm chẳng có mấy ngày giỗ kỵ cha mẹ , tổ tiên , lại sửa một mâm chén , tiền lễ đưa cha để cha cầu nguyện cho. Vậy là một món. Nhà nào có cha già mẹ héo cũng phải cố thu xếp mời bằng được cha đến làm phúc , cơm ăn rồi còn tiền đưa tận tay cho cha cầm về. Một năm một lần làm lễ kỳ hồn cho cả xứ, gia đình nào cũng phải đưa tiền , neo túng thì hai ba đồng , sang trọng thì từ một trăm trở lên. Ba món nhé !...Chả trách người ta đồn vàng ở Toà thánh còn nhiều hơn cả thế gian gộp lại…”
Nhìn nhận về thiên chúa giáo như vậy, quả thực ông nhà văn Nguyễn Khải xứng đáng là người…”duy vật”. Chỉ có điều tới ngày nay nếu có dịp đọc lại tác phẩm của mình, hẳn ông nhà văn phải cay đắng thừa nhận rằng cái “hợp tác xã nông nghiệp” mà ông hết lòng ca ngợi đã sụp đổ từ tám đời, nay chỉ còn là cái “bia miệng” cho thiên hạ chê cười , còn cái nhà thờ  mà ông ra sức bôi bácvẫn cứ lừng lững mà xem ra mỗi ngày cái “sự đạo” lại thêm tưng bừng náo nhiệt.
                                            
Tuy thế  đọc kỹ Xung đột cũng có thể lọc ra ít nhiều dấu ấn của cái thời đại “ hợp tác hoá nông nghiệp” kinh hoàng đó.
Vợ chồng nhà Lận trong làng có con trâu sẽ phải đưa vào hợp tác xã nhưng được hoá giá quá rẻ nên tự mổ thịt bán cho bà con trong xóm. Đó là tội ác tày đình, chỉ tiến hành lén lút ngoài bờ đê trong lúc Chủ tịch xã đi vắng. Trong số những người chạy ra đám mổ trâu mua về xâu thịt có ông Phó Chủ nhiệm Tam mà vì “đến mấy tháng nay mâm cơm không có được miếng thịt “ nên “đụng vài cân cho trẻ nó xởi lởi”.
Thịt trâu ăn vào bụng cả nhà rồi chẳng ngờ ông Môn,  Chủ tịch xã đi họp về biết chuyện, mắng xa xả :
“ Con trâu khoẻ mạnh thế mà nỡ giật ngửa ra ở rìa đê mổ thịt. Thàng Minh gộc pha thịt, thằng Long chọc tiết. Phen này ông cho cả lũ đi tù, chúng nó định làm loạn à  ?”
Ghê gớm chưa ? Người  dân ăn có miếng thịt trâu của chính mình mà ông Chủ tịch xã đã doạ “cho cả lũ đi tù” thì hoá ra ở cái xã hội ưu việt này, con người ta lúc nào cũng sẵn sàng…đi tù. Riêng ông Phó Chủ nhiệm Tam,  trót dại vì thương con cái thèm thịt mua về một xâu, ông vừa lo bị Chủ tịch xã dằn vặt, vừa lo “mất uy tín” “ hàng trăm cặp mắt chế giễu, căm giận, hàng nghìn lời nói đay nghiến, chì chiết sẽ bao vây lấy anh, tấn công anh và kẻ bị hành hình đã đành không thể sống nổi cũng không chết ngay được …”.
Ôi chao ôi, xã hội gì kỳ quặc, ăn có miếng thịt trâu mua bằng chính đồng tiền của mình  mà ông Phó Chủ nhiệm Tam  phải điêu đứng thế đến nỗi ông  phải than trời :
” Ôi, tủi nhục quá, cay chua quá và dại dột không biết chừng nào…Đằng nào thì  trong ngày hôm nay địa vị của anh cũng sẽ  thay đổi . Anh sẽ được nghe những tiếng hò reo gian ác, khoái trá của Đoàn và đồng bọn :” Tưởng gì, hoá ra cũng là một anh đạo đức giả. “
Và Tam quay mặt đi khóc nức nở…”
Muốn khóc gì thì khóc, trót ăn miếng thịt trâu rồi, ông Phó Chủ nhiệm sẽ bị đưa ra đại hội xã viên xem xét và bị Chủ tịch xã Môn chửi xơi xơi vào mặt :
“ Anh không xứng đáng, anh phụ lòng tin cậy của tôi , của cả chi bộ . Thằng địch có đâm tôi một nhát dao vào giữa ngực  cũng không đau đớn bằng cướp đi của tôi một người bạn.Thế là anh đã chết rồi, phải coi như là anh đã chết rồi. Biết vậy mà  không sao cứu được  nữa…”
Oi chao ôi, từ cổ chí kim, trên khắp mặt địa cầu này, có lẽ chẳng ở đâu chỉ vì bỏ tiền túi ra mua một miếng thịt trâu bỏ miệng mà bị rủa xả nhục nhã, coi như đã chết rồi đến như vậy. Chỉ nguyên cái chuyện “thịt trâu mổ lậu” , Nguyễn Khải đã “vô tình” lột trần tính phi nhân trong quan hệ đồng chí . Bởi vậy không phải “thân yêu nhau chúng ta gọi đồng chí”, mà chính là trong hội nghị sắp sửa sát phạt nhau , hai chữ “đồng chí” mới được dùng để đưa nhau lên thớt .
                          (còn tiếp)

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

VÊ MỘT THỜI..HÀNỘI (KỲ 33)


     
                  
                                                                      (tiếp theo)

Tôi ôm lấy mẹ, quay đi dấu giọt nước mắt. Tôi biết giây phút mẹ sung sướng thế này rất hiếm hoi. Từ ngày lấy chồng, tôi ít quanh quẩn bên mẹ nhổ tóc sâu và nghe răn dạy những điều mẹ nhắc đi nhắc lại tới ngàn lẻ một lần. Nỗi ao ước có đứa cháu nâng niu, bế ẵm canh cánh bên lòng mẹ  làm tôi đến khổ mỗi lần về nhà nghe mẹ thở than, ao ước.
“Vậy mẹ lấy vợ cho thằng Tú đi, nó sòn sòn năm một, tha hồ bà bế”, có lần tôi đã phải gắt lên thế, dọa lần sau còn nhắc tới chuyện đó, tôi không về nữa. Tuy thế tôi  không ngăn  được mắt  mẹ cứ nhìn vào người tôi đau đáu, và tiếng thở dài rất khẽ khi mẹ tôi nhận ra “vẫn chưa có  gì”.
Có lần tôi hỏi Bình vì sao người già yêu trẻ con đến thế? Để bớt cô đơn khi người lớn đi làm ? Để được truyền sức trẻ? Hay để tồn tại như một sự cần thiết trong gia đình khi những đứa cháu thường chỉ theo bà?
Bình ngăn lại, khuyên tôi không nên đi quá sâu vậy, tình cảm con người  hãy để nguyên dạng tự nhiên của nó, mổ xẻ ra, nó chỉ còn là  xác lạnh . Lúc này, tôi thương mẹ với dạng thuần cảm xúc như vậy, tôi muốn san sẻ cho mẹ máu thịt căng đầy sức trẻ của tôi .
      - Thôi ăn đi cho nóng, con .
      Khói thơm  bốc lên từ đĩa mì xào làm mắt tôi càng mờ đi. Tôi ép mẹ ăn vài miếng ngon nhất rồi tới lượt tôi, không đầy 5 phút, đĩa đã sạch trơn .
      - Ăn chậm thôi cô, kẻo lại nghẹn. - Mẹ tôi nhắc .
      - Đời vui quá không buồn được, mẹ ạ.
      - Thằng Bình đi rồi sao không về ở với mẹ?
      - Con phải ở bên đó trông nhà.
      Tôi bịa đủ lý do mưa hắt, nhà dột, trộm cạy cửa, sự thực, sau hôm chồng đi, tôi bỗng quyến luyến cái phòng, không phải những dấu vết của Bình để lại, hóa ra vắng anh tôi không buồn như tôi tưởng, ngược lại, sống một mình sướng thật , muốn ăn lúc nào ăn, ăn xong vứt bát đũa muốn rửa lúc nào rửa , khi tắm chẳng còn lo chồng dòm trộm, đi ngủ không sợ bị quấy rầy. Tôi sống nhàn nhã , thỏa thuê , chỉ canh cánh một nỗi chưa viết thêm dòng chữ nào trong cuốn truyện tương lai.
Có lần tôi hỏi ông Trưởng phòng biên tập kinh nghiệm viết cuốn sách đầu tay. “Lấy giấy bút và ngồi vào bàn”, ông trả lời thế và hỏi tôi có ý định viết văn không đấy? Tôi lắc quày quạy, có mà điên mới đâm đầu vào cái “nghề” của chú. “Đúng đấy, chớ nên dính vào, nó là cái “nghiệp” chứ chẳng phải “nghề” ai chưa đa mang  chớ có đèo bòng”.
Tôi cười mũi lời “bàn ra” của ông, tôi phải viết, nhất định tôi phải viết ,bởi nếu không, tôi còn biết làm cái trò gì trên cõi đời này? Nhất định tôi phải làm một cái gì đó ngoài những cuốn sách người ta chiếu lệ giao cho tôi.
      - Hồi này con béo ra đấy, may ra kỳ này...
       Mẹ tôi nói lửng cũng đủ làm tôi giật mình. Không khéo chẳng phải”làmvăn” mà lại sắp”làm mẹ” cũng nên. Như vậy chẳng hóa ra công việc tôi  nhằm tới không phải trên trang giấy mà ngay trong cái bụng ? Chắc không phải thế đâu, làm gì có chuyện hài hước quá thế, tôi gắt:
      - Mẹ chỉ đoán mò, con chưa có gì cả.
     - Thì mẹ cũng  nói vậy thôi.
     Mẹ tôi rơm rớm nước mắt, người già rõ buồn cười, càng cao tuổi tính khí càng trẻ con. Tôi an ủi mẹ cứ yên tâm, thế nào tôi cũng cho mẹ bế cháu, khoa học ngày nay đã tiến tới mức “ống nghiệm” cũng còn đẻ được huống hồ người khỏe mạnh như tôi.
Ngoài nhà, Tú đã tiễn bạn về, lâu lắm, hai chị em mới có dịp trò chuyện lúc mẹ tôi vui vẻ xách túi đi chợ. Chắc Tú chờ tôi hỏi han về cô bạn gái đầu tiên trong đời nó mời về nhà, nhưng tôi tỉnh bơ, cứ kệ, cậu ta khắc phải kể, và tôi nói về phim Việt Nam đang chiếu ngoài rạp, nghe đồn khá lắm, nhưng đông quá, khó lấy được vé.
       - Chị mà cũng để ý tới điện ảnh trong nước à ? - Tú riễu cợt.
   Quả thực, suốt từ ngày coi phim chị xã viên “chung thủy, đảm đang” với Bình, tôi chưa hề bén mảng tới rạp, ngay khi có phim nước ngoài. Tôi rất ngại “sự long trọng”, “nặng nề”, chẳng lẽ chịu giam mình suốt gần 2 tiếng đồng hồ trong phòng tối chật cứng , đầu óc vẫn căng thẳng , không cười thoải mái một trận sao?. Bởi vậy tôi chỉ đi xem phim hài là thứ tiếc thay ở ta còn hiếm. Tú có vẻ không muốn nghe tôi nói, chắc cậu ta nóng ruột muốn nhắc tới cô bạn .
      - Tại sao anh Bình đi xa, chị không về ở với mẹ?
      - Em cũng quan tâm chuyện đó sao?
      - Em hỏi cho mẹ.
      - Vậy thì chị đã trả lời mẹ rồi.  
      - Chị chẳng quan tâm gì tới mẹ cả.
      Tôi định nói “cả em cũng thế”, nhưng nhìn vẻ mặt của Tú, tôi phì cười:
 -  Mỗi người hãy chịu trách nhiệm lấy chính mình.
     - Chị thật quái gở.
     Tú đứng phắt dậy, bỏ lên gác. Lạ nhỉ, sao bỗng dưng hai chị em  gây gổ chuyện không đâu ?Tôi có lỗi gì trong chuyện này? Bữa ăn mẹ tôi nấu rất công phu thành ra mất ngon, Tú chẳng nói chẳng rằng, ăn qua quýt rồi xách xe đi. Rút cuộc người buồn nhất vẫn là mẹ tôi.
     - Hai chị em có chuyện gì thế?
     Tôi cũng chẳng biết giải thích tại sao bởi chính tôi cũng chẳng biết tại sao? Tốt nhất là kéo mẹ vào lòng nhổ tóc sâu, nói chuyện giá cả đang leo thang và các nơi đang đổi mới cung cách làm ăn.
     - Mẹ đang tính xin phường mở quán bán nước chè, tháng tháng chẳng kiếm được đồng nào, miệng ăn núi lở, mẹ lo quá, với lại mai kia lấy vợ cho thằng Tú, cũng phải giành dụm lấy món tiền.
      Tôi chợt nhớ cụ già bán nước trà bữa trước, không lẽ mẹ tôi rồi cũng như thế. không được, tôi không thích mẹ tôi vất vả, lam lũ thế. Tôi gạt phắt:
     - Không được, mẹ đừng tính quẩn, gia đình liệt sĩ ai lại đi bán nước...
     Tôi lôi tấm gương cách mạng của bố ra với ý định đè bẹp ý đồ làm “kinh tế cá thể” của mẹ nhưng không xong, bà bảo thời nào cũng vậy, “hễ đói, đầu gối phải bò”, chán vạn người công trạng gấp mấy bố tôi, giờ cũng mở quán bán đủ thứ, “mình lấy công làm lãi, chẳng bóc lột ai mà sợ”.
     - Bố thì cứu nước, mẹ lại đi bán nước...
      Tôi lăn ra cười, cố lấp đi nỗi xấu hổ đâm nhói vào lòng. Lẽ ra tôi phải kiếm thật nhiều tiền đưa mẹ hơn là tiêu phí thời gian vào những nghĩ ngợi xa xỉ và viển vông. Nhưng tôi biết làm gì ra tiền , cơ hội lấy chồng giàu bòn tiền về đưa mẹ đã qua mất rồi, làm vợ một ông kỹ sư, chưa đến mức phải về ăn bám mẹ là may. Vậy tôi vẫn còn hơn cái ông nguyên Giám đốc con bà cụ bán trà, ngồi âm thầm trong túp nhà như một xác chết người ta  chưa chôn kia. Không, thà chết còn hơn thoi thóp trong cảnh ngộ kinh hoàng đó. Ừ nhỉ, tại sao ông ta không dám chết? Tôi trừng mắt lên tự hỏi : Tại sao ông ta không dám chết.
      - Thằng Bình nó đi rồi, con rảnh rang nên năng về nhà hỏi han bảo ban thằng Tú.
      Mẹ tôi lại than thở giá như “ông ấy” không mất sớm thì bây giờ nhà làm gì phải tính chuyện mở quán chè. Tôi cứ ngồi im nghe mẹ kể lể, giãi bày. Đôi khi cũng phải thế, để mẹ trút sang tôi vợi bớt tâm tư, đó cũng là một cách hiếu thảo . Tuy vậy, giọng đều đều, buồn buồn của mẹ rất dễ gây buồn ngủ y như hồi còn bé, chỉ có lời ru là khác. Tôi thoáng nghĩ thế rồi ngủ lúc nào chẳng biết. Một giấc ngủ rất sâu, và yên bình. Một giấc ngủ được ru bằng những lời thở than của mẹ.

                      (còn tiếp)


Take a virtual trip to Jazz Fest New Orleans this weekend

New Orleans is always alive with music, from the bars of Bourbon Street to the jazz clubs of Frenchmen Street. The New Orleans Jazz & Heritage Festival—“Jazz Fest” to its friends—is an annual celebration of the unique music and culture of New Orleans, taking over the Fair Grounds Race Course each Spring.

For the first time Jazz Fest will be live streaming the festival, presented by DELL and in partnership with YouTube Presents! The broadcast will combine live music from across the next three days with pre-recorded highlights from last weekend.

It may be Jazz Fest by name, but it’s not entirely jazz by nature. The diverse lineup this weekend includes Bon Iver, Tom Petty, Trombone Shorty, Grace Potter & The Nocturnals, My Morning Jacket and many more. We’re adding artists all the time, so check-out the official Jazz Fest channel for the latest schedule.



The stream begins at 12pm PT today and runs through 6pm this Sunday. Enjoy!

Tim Partridge, music marketing manager, recently watched The Beastie Boys - No Sleep Till Brooklyn

Kabul explosion, Cairo sit-in protest attack, Giant hail storm in Maryland

Everyday on the CitizenTube channel (and @CitizenTube on Twitter), along with our curation partners @storyful, we look at how the top news stories are covered on YouTube. Each week we post a weekly recap of the top news stories of the week, as seen through the lens of both citizen-reported footage and professional news coverage.

  • We watched President Obama make a short trip to Afghanistan on the anniversary of Bin Laden's death, only for seven to be killed in a Kabul explosion just hours after he left.
  • We saw a sit-in protest in Cairo come under attack by unknown assailants, leading to nine deaths.
  • We monitored labour groups hold marches across the world to mark May Day, or International Workers' Day.
  • We viewed a shining beacon of light in the United Arab Emirates, but not in the way anyone would have liked, as a fire enveloped the Al Tayer Tower.
  • We followed the GOP candidates on another memorable day on the US campaign trail, as Newt Gingrich released a YouTube video announcing his withdrawal.
  • We observed police in Malaysia use tear gas and water-cannons to confront protesters calling for reform.
  • We saw shock in the French city of Toulouse as an F1 tornado landed nearby, damaging roofs and uprooting trees.
  • We witnessed a tragic death in St. Louis as the city endured a powerful storm that brought baseball-sized hail.
  • We watched Edward Munch's world famous painting, "The Scream", break records with a $119 million sale at a Sotheby's auction. 
Come back to watch the news unfold on YouTube. 

Olivia Ma, YouTube News & Politics, recently watched "Large Hail Hits Maryland Heights 04/28/12".

Finding and following new channels you love

If you’re interested in aerial silk or Rubik’s Cubes or anything in between, we want YouTube to have a channel ready and always updating for you.

In our goal to help you find great channels and videos you care about, we created Topics on Search to narrow your search results using commonly-used phrases. We took this a step further by auto-generating whole channels of topics in the ‘Top YouTube Collections’ tab, giving you constantly updated and uniquely-focused channels. Now, you’ll start seeing these channels more broadly available around YouTube, like in ‘Recommended for You’ section of our channels page and on a video watch page.

So if you’re into surfing, you could find the Big wave surfing channel, get introduced and subscribe to the NetworkA channel, and then enjoy this video of Garret McNamara surfing one of Poseidon’s finest. Here’s what the channel looks like:



Lots of complex algorithms are working behind the scenes to give you the channel you’re looking for, for example, being able to tell when the word ‘Chicago’ means the music band and when it means the movie/musical. We’re still tweaking everything to make sure it works just right for you, so let us know what you think of the channels or learn more in our help center.

So when you see a channel “auto generated by YouTube” around the site, give it a browse to find whole collections of channels and videos you might like, updated everyday with the freshest and finest videos you’re sharing on YouTube.

Mur Viswanathan, product manager, recently subscribed to the Parkour channel and Palash Nandy, software engineer, recently subscribed to the Brickfilm channel.

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

NHÂN GIỖ ĐẦU NHÀ VĂN TRẦN HOÀI DƯƠNG


                             

Nhân giỗ đầu nhà văn Trần Hoài Dương, gia đình đã mời các nhà văn, nhà báo , nhạc sĩ là bạn bè thân cận với nhà văn tới tham dự : Tô Hoàng, Đỗ Thái Bình, Tô Minh Nguyệt, Phạm Đình Trọng, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Mạnh Tuấn, Hà Phương, Dương Thụ, Trần Quốc Toàn, Nhật Tuấn, Triệu Xuân…Cũng nhân dịp này xin mời đọc bài viết của nhà thơ Đinh Trần Toán.

        Có một loài hoa dân dã

                                         nhà thơ ĐINH TRẦN TOÁN

Có một loài hoa dân dã gọi là Quỳ, sách vở ghi tên gọi Hướng Dương. Mẹ yêu hoa, thích trồng hoa, đặc biệt là hoa Quỳ, nên đặt tên con trai là Trần Bắc Quỳ, với ý nguyện mà sau này con mới biết “Chắc mẹ mong mỏi con trai mẹ giống như loài hoa ấy, lúc nào cũng hưóng về phía mặt trời, hướng về phía ánh sáng, phía ngay thẳng, chính trực, phía của cái đẹp, hướng thiện...” Hoa Quỳ sinh từ gốc Bắc, mang họ Trần xuất xứ Hải dương. Trần Bắc Quỳ đã hóa thân thành Trần Hoài Dương, nhập thần và nhân hóa chim muông, cây cỏ, hoa lá nhân hóa thành người trong cảnh vừa thực, vừa huyền nhiệm thiện, thiền để cùng chia sẻ, cùng trò chuyện...
Xuân Tân Mão , tháng ba ta, hoa gạo nở, Quỳ đã vội hóa thân cát bụi, vội về với đất làm nền cho thảo hoa sinh sôi phát triển, trong đó có hoa Quỳ.
Những ngày xưa , trong con mắt gia đình, Quỳ là một anh hùng, nghĩa khí, bền chí, cả gan gạt bỏ những giáo huấn, răn đe, can ngăn, sự ra giá, cả sự mặc cả. Quỳ chịu mọi áp lực dồn nén của việc “đấu tranh, tránh đâu”, bị tước đoạt mọi cơ hội học hành, quả cảm nhận phần thua thiệt để theo  đạo lý làm người, trọn tình trọn nghĩa anh em.
 Sau chiến tranh, như mọi gia đình cùng cảnh kẻ bắc người nam, gia đình Quỳ  không chỉ có một mình Việt, người em con cô cậu từ nam ra bắc, lúc đầu ở trại Tuyên Quang sau về Vĩnh Phú, “học tập cải tạo ”  đằng đẵng chín năm.  Không ai như Quỳ “ vóc dáng thong thả, thư sinh, mềm mỏng, nhã nhặn mà sao gan góc vậy. Người đâu “ gàn bất tử...” (Đỗ Chu) tặn tiện từng đồng, từng viên aspirine, từng miếng lương khô, tháng tháng cùng bạn đồng hành là chiếc xe đạp, thường thì xe cõng người, nhiều khi người phải vác xe lội rừng, vượt suối thăm nuôi Việt. Chiếc xe đạp - nhân chứng một thời tao loạn, khắc nghiệt hiện Quỳ đang bảo quản trên lầu ba, nghe đâu Hội nhà văn định xin chiếc xe ấy làm hiện vật bảo tàng?!... Có lần thăm nuôi, Việt ngơ ngơ nhớ vị rượu cay,.. Quỳ lẳng lặng, lội vào xóm núi, xuống tận bản mường đổi được lưng chai rượu sắn mang về cho Việt... Anh em cùng ngậm mấy ngụm rượu sắn chua chua, cay hỗn, lơ mơ  ở ngay chỗ sơn cùng, để mà ngấm tình... người. Hai anh em, cùng có chung máu  nghệ sỹ, Việt văn công phía “địch”, Quỳ văn sỹ phe “ta” cùng gốc tri âm, vì thương nhau mà cùng lận đận.
Ngày cúng thất tuần, tất cả đều rưng rưng. Lê Phú Khải nói ngắt quãng :
“Tên là Quỳ mà chẳng bao giờ quỳ gối. Tên là Quỳ mà cả đời đi đứng thẳng lưng...”.
Phạm Đình Trọng, thương cảm nhớ cái ngày Quỳ khốn khó, rất nghèo, nhưng chẳng chịu hèn. Trần Mạnh Hảo rất mực rằng “Viết cho thiếu nhi ở Việt nam, Quỳ là số Một”... Còn Nhật Tuấn, vẫn như ngày “Trang mười bẩy” rổn rang, mã thượng, thẳng tưng, sắc lẻm:
“Ngay từ đầu, thằng Quỳ đã tách khỏi bọn những thằng Hoàng Hưng, Trí  Dũng, Bằng Việt, Nghiêm Đa Văn, Nhật Tuấn.. Một mình nó một đường. Nó bỏ báo Học Tập, bỏ chỗ một làm thơm nhất lúc bấy giờ, một chỗ mà người khác chẳng dám mơ, lên huyện miền núi Bắc Giang xa lắc, hai năm trời ở Trường giáo dục trẻ em hư, ba cùng với lũ trẻ để viết về chúng, những đứa trẻ vẫn còn nguyên phần người trong sáng,..Thằng Quỳ sớm lên rừng vào rú... còn tao sau này mới “Đi về nơi hoang dã”. “
Ơ! nàyTuấn,  Quỳ khác ở chỗ nó đi về xứ những người đã có quê, đang ở giữa quê mà quê thì đã mất, chỉ còn lại một tiếng quê, còn Tuấn  “đi về nơi hoang dã”, là đi về chốn quê mà không phải là quê, chưa quê!  Mà thôi, cho qua chuyện này...! Sáng sớm nay có hai ông bạn văn chương của Quỳ, từ Hà nội vào. Họ ngồi tàu lửa xình xịch hai đêm, vừa kịp sáng, vội đến thắp cho Quỳ mấy nén hương, rồi vội đi gấp vì công chuyện. Bác Ngà ngoài Hà nội, ủy thác mình tiếp họ, nhưng họ vội lảng và đi, thế nên mình không gặp... Chuyện,.. ầy,.. thường!.. lúc này đây mọi người đang nhớ, mới thoắt đó, nay Quỳ đã là thiên cổ, đã ở miền trong xanh, ở cái miền mà suốt một đời mơ ước, vì nó mà Quỳ bỏ tất thẩy. Đoàn Ngọc Trinh đúng, khi ngẫm ra rằng Quỳ sướng, Quỳ không khổ! Quỳ sướng vì đã sống theo ý thích của mình. Trinh hiểu ra,và có lẽ vì, Trinh thì  nợ Quỳ món nợ nhân duyên, còn Quỳ lại nặng nợ văn chương nên Quỳ gác bỏ mọi thứ, kể cả vợ con…Trinh đã nhẫn nhận thực tế có phần phũ ấy, mỗi người gánh một gánh nợ riêng nên chia tay, nhưng cả hai cùng ở vậy, không ai đi bước nữa. Cái quan niệm sướng - khổ của Ngọc Trinh khác hẳn cách nhìn nhận sướng và khổ thường tục ở mình, cho rằng Qùy khổ!  
  Còn hiện giờ, một mình mình đang lắng  Những giờ trôi…/ Những ngày trôi…/ Còn lại trong tôi hình bóng những người bạn tôi một thuở của những ngày đang trôi… tâm trạng này chợt đến khi Dương Thụ tặng mình cuốn café mưa (08. 2010) cũng là tâm trạng lúc này, đang nghiệm thấy Quỳ đang ruổi về Miền Xanh Thẳm để nghe, lắng nghe cho được sự sự vật  hiện tồn sinh trong cõi trong xanh thăm thẳm. Quỳ lắng nghe thiên nhiên, lắng nghe cây cỏ muông thú trong bốn mùa mưa nắng với tất cả sắc màu biến ảo của thời sinh. Quỳ lắng nghe “Câu chuyện còn giấu kín trong lớp vỏ” rồi thấy “những hạt đỗ phồng to lên, nứt vỏ và nẩy những cái mầm mập mạp…”, lặng nghe, quan sát sự sinh thành của một Bé Rơm nhận ra ngay câu chuyện cảm động và nhân bản. Trong Bé Rơm đã có phần thể hiện quan niệm sống của Quỳ “hạnh phúc là được sống theo ý thích, làm theo ước nguyện của mình và được chia sẻ”. Quỳ đã lấy câu nói của H. C. Anđecxen “Anh hãy gắng sao có được óc tưởng tượng, không phải để tạo ra đau buồn,  mà để mang lại hạnh phúc cho mọi người và cho anh” để làm phương châm sống. Quỳ lắng chuyện Em bé và bông hồng thấy: “Bông hoa tỏa hương dìu dịu, khẽ rung rinh như mời mọc: “Lại đây cô bé, lại đây chơi với tôi  đi”, lắng đàn se sẻ và nghe “lời động  viên của (con) sẻ đầu đàn Cố lên! Cố lên! Sắp  tới bờ rồi” , lặng lẽ quan sát Kiến Nâu và Bọ Ngựa thấy chúng trở thành đôi bạn chí thiết trong truyện Con Chim Xanh, lắng Tiếng Mùa Xuân, lắng tiếng tâm tình trong “Bạn Chí Thân”, nghe tâm trạng con Ky – “người” chia sẻ những nỗi niềm thơ bé của Quỳnh:“Ông ơi  ông, ông bảo thằng Quỳnh nó cứ trêu chọc cháu đây ông”. Con Ky biết giận hờn, biết nghe lời bạn, biết việc phải làm, thực như người,.. Một Quỳnh – con người và một Ky – con vật, cả hai như hòa vào nhau, thông hiểu nhau, hơn hẳn những con người vô cảm, trùm lấp thế giới phằng này, hơn hẳn bọn bạo cuồng vật dục, đã mất hẳn phần nhân tính, đang cố tình không nghe, không hiểu, cố tình gạt phăng sự thông cảm những nỗi người…
  Cái sự nghe và sự lắng của Quỳ, thật đáng ngạc nhiên, có cái phần chút chút tương đồng với Dostoievski – văn hào Nga, như Stefan Zweig đã viết “Goethe người của đôi mắt, theo cách diễn đạt của Wagner, Goethe miêu tả mọi cái bằng cái nhìn, còn Dostoievski, người của đôi tai…ở Dostoievski chúng ta nhìn thấy là bởi chúng ta nghe thấy” (H.A. & đồng nghiệp, t.396)
Nhưng sự lắng và sự nghe của Quỳ khác với cái cung cách nghe của Đốt ở chỗ: kiểu lắng nghe của Quỳ và ở những người theo cái xưa cũ phương Đông là thao tác căn cơ của việc “thiền”: Nghe người, nghe mình, nghe thinh lặng /Nghe ngoài nghe trong thinh lặng âm vang/ Nghe như vậy là trong veo…thinh  không…tịnh lặng và là…/ Về tới cõi yên lành! Mình cũng đã lăm le học cách lắng nghe, lắng nghe theo kiểu nghiệm sinh trong cách sống thường hằng của người Việt, biết thuận hợp với môi sinh, biết vui sống, an nhiên, tự tại cũng là lúc biết tìm và biết thấy “bến Thinh Không”.
Quỳ đã chọn cho mình cách sống theo ý thích, làm theo sở nguyện, không chịu bất kỳ sự khuôn thúc nào dù của đoàn thể hay tổ chức, không chịu lệ thuộc vào bất kỳ ai, kể cả vợ con.  Quỳ phá bỏ những quy ước sống thường tục để được là chính mình, truyện ngắn “Em muốn được là chính mình” là một xác tín.
Cuộc sống Quỳ có chủ định, mà như tình cờ, là “phá chấp”! Phá chấp! kiểu... của ông “Ông Phật sống” – Lưu Công Danh “Ông bỏ hết vàng son/ Bỏ ngôi cao chất ngất/ Trải cuộc sống dị giản / Giản dị tới nguyên thủy con người/ Ông thật – người – người – thật/ Ông đời gương tối giản / Ông đã vuông – tròn với nước non! / Ông còn lo vuông – tròn cho mai hậu”.
 Quỳ sống cô đơn. Sống cô đơn là cách Quỳ tự chọn. Quỳ giành hết thời gian, tâm lực tài trí cho những Miền Xanh Thẳm, những Nàng Công Chúa Biển. Trong mọi cảnh huống Quỳ đều chủ động tạo thế tự do như là một chủ thể cô đơn hóa để sáng tạo. Quỳ cô đơn còn bởi một lẽ khác, ấy là do sống bằng lý tưởng, lý tưởng cộng sản, lại cũng là chứng nhân sự đổ vỡ lý tưởng. Quỳ vốn là một cậu bé con, không chịu lớn, ngơ ngác cả tin nên bơ vơ sống ngay cả trong miền hạnh phúc gia đình, rõ là hiện thân của sự cô đơn, hờn dỗi, dằn vặt, hiện tồn trong nhân hóa, kể cả ông trời! Và cái chết với Quỳ, có thể là sự may mắn của số phận, đã giải thoát Quỳ khỏi cuộc  luân hồi, bất trắc, hàm chứa việc giữ được tuổi thơ trong trẻo, không chịu được sự đời núp bóng cái ngây thơ, trong sáng của tuổi thơ, che đậy sự vô cảm, đầy mưu mẹo để tham, cầu cực...
        Nhìn lại thế hệ chúng mình sau ngày thủ đô giải phóng, ai nấy đều  sống theo lý tưởng, ai nấy đều hăm hở xuống biển, lên rừng, ước mơ xây đời mới. Hoàng Hưng lên Điện Biên làm giáo viên văn hóa cho bộ đội, Vĩnh Sương bỏ học đại học, đi làm công tác đoàn, mình vào Sư phạm, học ngành tiếng Nga, Quỳ thì theo học báo chí ...
        Ngày đó lũ mình, cả một thế hệ hoàn toàn trong sáng, không một mảy may tính toán, so đo, lao vào nền dân chủ mới, ùa vào tham gia mọi cuộc “cải tạo”.., đua theo mọi phong trào, gạt phứt sự vướng bận, phiền toái liên quan tới cái gọi là “tạch sè; tạch tạch sẻ” (tư sản; tiểu tư sản) được cho là lạc hậu, là phản  động, cố mà theo cung cách bần cố nông “thành phần cơ bản”. Thế hệ ấy sống theo lý tưởng, bằng lý tưởng cộng sản, mà ngay từ buổi sơ khai đã là không tưởng, cũng là thế hệ chứng nhân sự đổ vỡ lý tưởng cộng sản.
Ngày nay có  đủ loại bằng cấp học vấn, nhưng cái nền là văn hóa thì mất gốc. Hệ quả, ít nhất ba thế hệ con em người Việt không biết, không hiểu văn hóa là gì…thành ra lũ người vô văn hóa, dẫu có thân xác phì nộn, hoạnh phát, hoạnh tài, vật chất thừa mứa đấy, nhưng tâm hồn teo tóp, khô kiệt, tính linh u mê, từ đó dẫn tới hiện tượng  gần như phổ biến  là cái thiện thua cái ác, kẻ làm càn thắng người chính trực, đồng tiền thống trị trong và ngoài xã hội, tác oai tác quái và đang vào cầu cực kỳ hốt!.
        Lý tưởng, xét về mặt chữ nghĩa, là cái gì đó không có thật, nó được tưởng tượng ra, được vẽ ra, vì thế nó đẹp đẽ, mỹ miều, khác xa, rất xa hiện thực sần sùi, thô lậu, tàn khốc, bạo liệt .  Lý tưởng đổ vỡ, cuộc sống đảo lộn điên khùng, không còn chỗ cho ước mong và hy vọng bám víu, nên bị bơ vơ, và nỗi bơ vơ như Trần Mạnh Hảo hạ bút
“ Nỗi bơ vơ ấy đã cướp đi hạnh phúc trần gian của anh. Trần Hoài Dương theo đảng cũng bơ vơ, theo vợ cũng bơ vơ, theo văn chương càng thấy bơ vơ. Anh đã đi theo đứa trẻ con là tâm hồn mình, chơi tiếp cuộc chơi trốn tìm với hư vô, với cái chết. Trần Hoài Dương, hình như anh chính là biểu tượng của lứa trẻ con U 70 chúng tôi: một thế hệ bơ vơ”
  Ở Quỳ sự thành kính, thành kính phẫn nộ, thành kính yêu thương, sự thành kính ấy trở thành sự bơ vơ, bơ vơ – thành kính. Thành kính trong nguyện ước luôn hướng về mặt trời, hướng về sự sáng và trong, hướng về cõi thiện cũng là cái niệm đích của bút hiệu Hoài Dương.
 Chiều tối, trước ngày tiễn Quỳ đi, Trí Dũng, nhà thơ “Lòng Uông Bí”, dõng dạc điểm mặt :
“ Thế hệ chúng mình thất bại, tất cả mọi thằng đều thất bại,.. Ấy là…chỉ kể những thằng cùng  một lứa với nhau ở Phổ thông Ba. Bằng Việt thì thành cả danh cả chức, nhưng bây giờ thế nào…Nó chỉn chu, tròn trịa,.. Hoàng Hưng thì bây giờ như mất phương hướng cách tân …cũng tại nó… Nó cách mạng cách tân thơ phú cái con khỉ gió. Mày thì…thơ chưa phải là thơ, triết lý vớ vẩn, may cũng có vài câu hay … Ờ, mà hay hay dở còn tùy, được cái mày có chất của mày, có lực của mày.... Quỳ thành công trong nghiệp văn, nhưng thất bại trong cuộc sống. Mà văn chương thì là cái chó gì. Cuộc sống mới là quan trọng. Còn tao! Tao vẫn đi dạy cho vui mà thực thì cũng còn là để kiếm sống. Tao vẫn làm thơ để cho riêng mình đọc, không chỉ có Lòng Uông Bí, nhưng tao đếch thèm gửi cho thằng nào, kể cả mày…Tóm lại bọn mình đều thất bại. Sắp xuống lỗ cả nút rồi…à mà, ngoài thằng Quỳ, có mấy thằng trong bọn minh đi rồi nhỉ? Chỉ khi chui xuống lỗ thì mới không còn thất bại, mà cũng chẳng còn thắng lợi, phải không ?!”
Tôi trả lời Trí Dũng :
“ Còn thì tao vưỡn...đang là, đang “ngâm cứu” những món cũ xưa, meo mốc, kiểu như Lý dịch khó nhằn, còn món thơ thẩn của tao thì vẫn thơ thơ thẩn thẩn, lênh phênh, dạt trôi, sắc thơ tối mịt tối mò, thơ xóm, thơ vườn, vợ chê quá xá. May có Lão Trang gốc Bến Tre, thương tao nên chịu đọc tao, nghe tao, lại còn ân thưởng cho hai chữ: “tri âm và nén chữ”. Còn có một cơ duyên khác, là nhờ cảnh tình tri ngộ của Hà Phương biên tập, Vũ Ân Thy đọc ngẫm, được Nguyễn Mạnh Tuấn hết sức động viên tao viết lách, thỉnh thoảng lại được thằng Nhật Tuấn tuếch toác bốc cho mấy câu, chỉ cho vài chiêu viết  thoắng, do vậy mấy bài viết và thơ của tao mới năm thì mười họa cũng  được trưng lên mặt báo.  Mà này hình như thế hệ mình cả một lũ làm văn thơ chuyên nghiệp đều bắt đầu từ việc làm báo tường cả hồi phổ thông lẫn hồi đại học? Chỉ có mỗi thằng Quỳ mang nghiệp văn chương ngay từ hồi tiểu học...thuộc vanh vách những vần thơ, những áng văn, trì chí cùng văn chương nghiệp quả! …”
        Cùng học theo cái Chân, cái Thiện với Quỳ nên mình đã mon men vào cửa rừng chữ nghĩa văn vẻ này, mót chữ, gom câu của Quỳ, của bạn bè mang về ươm ở vạt nương téo tẹo, ẩn khuất trong khóm dây nhợ sơ khai, lấy vài cành bút vạch mấy vạch con con mong vẽ thành rạch nước, bài viết này cũng là việc sơ phác về thế hệ chúng mình, mem mém mép trên thất thập, tạo ra văn bản này là sự ghi nhận cây hoa Quỳ đã hóa thân thành Hoài Dương – Nhân hóa, thành thiết mộc đinh. Quỳ hãy ghi nhận bài viết này như là Quỳ đã ghi nhận chúng mình có “...tình anh em thân thiết suốt gần nửa Thế kỷ nay... Bạn chí cốt” và đem nó theo, để thỉnh thoảng, lỡ gặp sự buồn, thì mở ra liếc vài dòng cho khuây khỏa.

Mạc Tuấn ĐINH TRẦN TOÁN

 ĐINH TRẦN TOÁN, bút hiệu Mạc Tuấn, sinh 1941, quê Hà Nam. Chuyên nghề giáo học, nghiên cứu việc học, dạy tiếng Nga – ngoại ngữ –văn học Nga – Xô viết theo nguyên lý Âm  – chủ –tịnh và Dương – Khách  – Động của Đông học . Công trình nghiên cứu này đã công bố 17 tháng 8 năm 1990 tại Maxcova và trong tạp chí chuyên ngành “Tiếng Nga ở nước ngoài” và in trong các tạp chí ở trong nước.  .
Đã xuất bản 07 tập thơ có tiêu đế chung  NGHIỆM SINH: N.S 1 Tình Quê; N.S 2 Trăng Quê; N.S. 3 Lời ru & Ấn tượng; N.S 4 Thời gian & Tâm trạng, N.S 5 Rong chơi; N.S 6 Chùm thơ 98; N.S 7 GÓP NHẶT THƠ...hiện đã hoàn thành một loạt bản thảo thơ như Đối thoại & Độc thoại Thiền, rồi làm thơ BA CÚ …Tuyển dịch một số thi phẩm của các tác gia PUSKIN, ÊXENHIN, đã công bố trong các tuyển tập thơ.

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀNỘI (KỲ 32)



                                                 (tiếp theo)

                         CHƯƠNG BA

                    1.
      “Thử tưởng tượng, bỗng một ngày nào đó, sau những trận mưa lớn kéo dài, tất cả các con sông đều dâng cao tới mức nước lịch sử, đúng lúc đó, sóng triều tại các cửa sông đổ ra biển cũng dâng cao nhất. Một trăm mét nước sẽ phủ lên làng mạc, ruộng đồng, thành phố, sẽ cuốn trôi tất cả nhà cửa, con người, con vật, tiện nghi...
      Chị sẽ làm gì trước cái ngày xảy ra cơn hồng thủy được báo trước đó?
    
 Tôi sẽ làm gì ư?
 Lâu rồi, tôi không nghĩ tới câu hỏi đó nữa, nó đã chìm trong vặt vãnh hàng ngày. Vả lại, xác xuất của giả định đó quá thấp không gây nổi một ám ảnh nhỏ cỡ như nguy cơ bệnh ung thư với người nghiện thuốc, cũng chưa đủ huyền hoặc trở thành công án “thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay” của các thiền sư .
      Tuy nhiên, tôi chợt nhớ tới khi vào một tối đang đọc sách . Điền, anh kỹ sư thủy văn , người đưa ra câu hỏi đó , đột ngột tới thăm .
      - May quá, sợ em về nhà mẹ.
 Tôi bảo trước định thế, sau đổi ý kiến chẳng vì lý do gì, thích thì làm vậy thôi.
      - Bình khỏe lắm, anh có gặp hắn ở Sài Gòn...
      Anh đặt lên bàn gói quà và lá thư chồng tôi nhờ chuyển. Tôi không hào hứng lắm vì tôi mới nhận thư Bình lúc chiều, điều đó dường như đánh một dấu hỏi vào ánh mắt đầy suy nghĩ của Điền.
      - Em pha cà phê anh uống nhé?
      Tôi đứng dậy, cảm thấy cái nhìn của anh phía sau khi tôi đi vào bếp. Mùa đông đã tới từ vài hôm nay, gió rít ù ù qua khe cửa sổ, tôi tiếc rẻ, chỉ muốn chui ngay vào chăn bông đọc sách. Từ hôm giở rét, tôi rất lười, chập tối là không thiết làm gì, tivi cũng chẳng mở, cứ nằm co trên giường .
      Điền ngắm bức ảnh văn hào Gogol treo đầu giường . Anh có dáng vẻ như Bình khiến tôi cảm giác đang trong tối mùa đông khi chồng chưa đi xa.
      - Hình như ảnh này em mới treo?
      Điền hỏi vẻ như quen thuộc căn phòng này lắm. Tôi nói tôi mới treo sau ngày Bình đi công tác. Anh ngắm nghía và cứ nhăn trán không hiểu đã thấy người trong ảnh ở đâu. Tôi thử đoán điều đó có ý nghĩa gì đối với anh chàng kỹ sư kiêm áp phe này. Chắc anh muốn biểu lộ một cái gì đó. Anh gật gù :
      - Anh nhớ ra rồi, ông này đúng là ông Zéczinxki, ông tổ công an Liên xô.
      Tôi gật rối rít :
      - Đúng, đúng, giỏi thật, anh giỏi thật.
      - Nhưng sao em treo ảnh đó ?
      - À...anh Bình đi vắng, em sợ... trộm lẻn vào.
      Điền cười gượng, chắc anh tưởng tôi ám chỉ anh. Sự thực, tôi vui miệng đùa thôi. Kể ra anh chàng này sẽ là hiền nhân quân tử hay kẻ phản bạn thì cũng tùy thuộc tôi cả. Thôi, hãy cứ để anh là một người bạn tốt của chồng tôi. Tôi vào trong khoác ra ngoài thân thể nở nang đang nổi cộm dưới làn áo sợi mỏng một chiếc áo măngtô len, tránh cho đôi mắt anh khỏi bận rộn, yên tâm ngồi uống cà phê, nói những câu chuyện nghiêm chỉnh .
Quả nhiên khi tôi bước ra, thái độ Điền thay đổi hẳn. Anh tấm tắc khen cà phê ngon, nếu căn phòng này ở tầng trệt, quay mặt ra phố, anh sẵn sàng bỏ vốn mở hiệu cà phê cho tôi đứng bán. Anh nói tình hình trượt giá đang mức báo động đỏ, lương tháng cán bộ không đủ sống một tuần, kiếm tiền ngoài giờ đã trở thành bắt buộc , nhất trí thức.
 Tôi ngồi im theo kiểu quan sát nhân vật sẽ đưa vào tiểu thuyết. Hay lắm, khi chưa tìm ra mẫu nhân vật nữ, tôi nghĩ xem có thể dùng anh thành nhân vật nam được không? Tôi nhận ra  ngoài dáng vóc, anh có nhiều cái giống chồng tôi, chẳng hạn những đề tài thích nói, dục vọng  kìm nén trong mắt, cái nhìn luôn dè chừng nhưng lại rất láu lỉnh, phải chăng đàn ông có một mẫu số chung nào đó.
       - Em nghĩ gì căng thẳng quá vậy?
      - À...à...em đang nghĩ tới câu hỏi của anh về “cơ hội trùng phục có tính cách lịch sử” của những cơn lũ.
      - Anh đã nghe nhiều người trả lời,phần lớn đều thích ăn ngon, sống gấp trước ngày tận thế.
      - Vậy đó là câu trả lời duy nhất đúng?
      - Không hẳn thế, sẽ có một số người nghĩ tới việc đóng một con thuyền Nôê duy trì sự sống cho hậu thế.
      Tôi bật cười:
      - Con thuyền Nôe của anh chắc sẽ chìm luôn vì chẳng ai chịu để kẻ được tuyển chọn lên thuyền nếu không phải là mình.
      - Không, phải xét chọn đủ nam nữ, cơ cấu ngành nghề, thứ tự ưu tiên...".
      Anh kể ra theo danh sách các loại người sẽ được phát tấm vé xuống tàu kiến thiết nước Việt Nam mới sau cơn hồng thủy :
- Trước tiên là triết gia, thày tu và...gái điếm...
Tôi há miệng :
- Sao  lại thế ?
Điền cười cười :
- Đó là ba loại người có mặt sớm nhất trong lịch sử loài người và sẽ tồn tại mãi mãi...
 - Rồi đến ai nữa ?
- Tất nhiên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bác sĩ, kỹ sư, công nhân, nông dân...
Tôi bật cười :
- Để rồi lại đấu tranh giai cấp, lại xây dựng chủ nghĩa xã hội à ? Có mà loạn !
- Biết sao được. Không đủ ngần ấy thành phần sẽ không thành nước Việt Nam mới...Cái nước ta nó vậy
-  Thế còn văn nghệ sĩ ?
Điền lắc đầu :
- Tụi này xếp sau cùng, nhất là...nhà văn cấm không cho lên tàu ...
Tôi kêu lên :
- Ôi, sao anh ghét mấy ông nhà văn thế ?
- Tụi này luôn luôn phá thối, có được tích sự gì đâu ?
 Tôi không cãi, cứ để mặc anh say sưa trong quyền lực Thượng đế, sắp xếp một mô hình tối ưu cho nước Việt mai sau.
      - Vậy được chưa? - Điền đắc ý hỏi tôi.
     Tôi chịu, không biết trả lời sao, với tôi, dù là  ông Giám đốc,   bác lái xe, nhà thơ X, hay cụ già bán nước trà... ai cũng một con người, chọn người này sống, để người kia chết là một công việc bất khả, khoa học dù có chính xác tới đâu cũng chẳng cân đo nổi con người, nhất thế giới bên trong nó.
      - Cô thuộc loại duy cảm.
      Anh chỉ mặt kết tội tôi rồi đi tới nhìn lại bức ảnh :
     - Ông này chắc không phải Zéczinxki.
    - Sao anh biết ?
   - Anh nhớ ra rồi, em không phải loại người treo ảnh công an lên đầu giường. Ảnh ai thế ?
  -  Nhà văn Gogol…
  Anh a lên đắc ý, biết ngay mà, loại người như tôi chỉ  ái mộ văn nghệ sĩ, lẽ ra tôi phải lấy chồng diễn viên điện ảnh, ca sĩ hoặc xoàng ra cũng nhà thơ, lấy kỹ sư như Bình là hỏng, hỏng.
Tôi tiễn Điền ra cửa vẫn chưa hết buồn cười . Tôi bắt tay anh thật chặt và thở phào, may quá, anh vẫn còn là bạn tốt của chồng tôi. Tuy nhiên tôi cũng không mời anh ghé chơi, sợ  lần sau, tôi không còn cho anh “cơ may” thế nữa. Cầu chúc cho anh vừa làm tốt việc kỹ sư, vừa trúng mánh áp phe và một ngày nào đó gặp được cô gái hợp ý, chớ dại dột dính vào loại người như tôi.
Gài cửa thật kỹ, tôi quay về buồng và lúc này tôi mới bóc thư và mở gói quà Bình gửi. Một bộ đồ lót và một bánh xà phòng Camay. Hóa ra cách nhau cả nghìn trùng cây số, anh vẫn còn đầy ám ảnh cái đêm trước khi đi. Anh viết cho tôi như thế và thú thực rằng trong lúc nghỉ ngơi trước khi ngủ, đêm nào anh cũng tưởng tượng ra tôi “ròng ròng anatomie (*)”. Tôi ngẩn ra, không hiểu sao anh ta lại biết cả thơ Hồng Loan, không lẽ nó đã đọc cho anh nghe, không, không đời nào. Vậy mà tôi cứ đinh ninh hiểu chồng tận chân tơ kẻ tóc, tưởng có thể xếp anh lên giá như một cuốn sách đọc rồi.
      Mấy ngày sau, đi chơi với Hồng Loan, tôi hỏi chuyện đó, nó trợn mắt :
       - Có họa điên tao mới đọc cho lão ấy nghe.
      - Lạ nhỉ, sao lão biết ?
     - Lão đọc được trong óc cậu đấy, ngày trước cậu chẳng khoe tớ thế là gì ?
     - Không , tớ nói đùa cậu thôi.
    Tuy nhiên tôi vẫn phân vân, sống với nhau cả hai năm , tôi vẫn nữa tin nửa ngờ, không dám chắc rằng khả năng phi thường đó anh có hay không? Có lúc tôi khẳng định  chuyện đó là tưởng tượng, có lúc, như lúc này, tôi lại nghi không khéo chồng mình đọc được ý nghĩ mình thật. Vẻ bần thần của tôi làm Hồng Loan phì cười :
     - Coi chừng, có khi lão ấy đọc được thật chứ chẳng chơi. Mẹ ơi, mình nghĩ gì nó cũng biết được hết thì chỉ có chết.
    Nó cười đắc chí làm tôi bực mình, thôi không nói chuyện đó, tôi hỏi  lâu nay có gì vui không? Nó nhìn tôi, thoáng nghĩ rồi điềm nhiên:
      - Tớ sắp lấy chồng.
      - Ghê quá nhỉ, vậy mà kín như bưng. Anh chàng nào thế?
      - Tớ đã nói với cậu rồi, một anh da đen.
      - Thật hả, chừng nào cưới?
Nó đáp gọn thon lỏn :
      - Chủ nhật tuần này.
      Tôi trố mắt, hai ngày nữa nó lấy chồng, tôi là  bạn thân nhất mà không hề hay biết. Con bé này quả thật là bí ẩn. Tôi vội hỏi :
      - Cưới ở đâu ?
Giọng nó tỉnh bơ :
      - Ở nhà cậu.
     Tôi bật cười, điên cả lũ rồi, có trời biết con bạn xinh đẹp của tôi  bày trò quỷ gì. Anh chàng bất hạnh nào sẽ là nạn nhân của nó, con ông cháu cha sướng thế đó, cơm áo chẳng phải lo, chỉ lo bày trò nghịch ngợm.
     - Tớ nói thực , tớ sẽ cưới ở phòng cậu.
      Vẻ mặt đầy long trọng của nó khiến tôi không dám đùa . Nó cũng nhất quyết không tiết lộ gì thêm ngoài yêu cầu sáng chủ nhật tôi phải ở nhà chờ nó tới. Lúc chia tay, tôi vẫn chưa hết băn khoăn.
      - Cậu chuẩn bị xong hết chưa? Có cần gì nữa không?
      - Cần nhất là cậu phải kín miệng .
      Tôi ngơ ngác nhìn theo chiếc xe máy của nó chạy khuất trong phố. Hồng Loan sắp lấy chồng thật ư? Nhưng nó đã yêu đương và đã ăn hỏi ai đâu? Tại sao nó bắt tôi phải giữ kín ? 
Tôi rẽ vào nhà mẹ với bao dấu hỏi ngổn ngang trong đầu. Ở gian ngoài, thằng Tú đang tiếp bạn gái. Phép lạ  chăng? Những “tấm sơ đồ vi điện tử” của nó đâu ? Hay thần Cupidon đang nổi hứng bất tử, bắn loạn xạ những mũi tên tình yêu bay khắp thành phố làm thổn tức cả những trái tim hêli (**) như Tú và Hồng Loan ? Thấy tôi bước vào, Tú ngẩng lên bẽn lẽn :
      - Chị Vân mới về, đây là Trâm, bạn em.
      Cô bé ngước lên đôi mắt trẻ con, mặt đỏ tía lúng túng chào tôi. Chết thôi em Tú ạ, rước cái của mặt dán tận xương kia về, tối ngày  hầu hạ nó thôi. Em hay nói: “Mỗi người hãy chịu trách nhiệm lấy chính mình “, thì đấy, hậu quả em tự gánh lấy. Tôi bước nhanh vào nhà, chỉ sợ Tú đứng dậy tuyên bố “chủ nhật này cưới” như Hồng Loan thì chắc tôi ngất xỉu. Nghe tiếng tôi nhà ngoài, mẹ tôi đã bắc bếp xào nấu cái gì đó.
      - Mẹ ơi, con đói.
      - Cha bố cô, cứ thấy mặt mẹ là đòi ăn .
________
(*) Thơ Dương Tường - ngụ ý khỏa thân.
(**) Khí trơ

                                (còn tiếp)