Hiển thị các bài đăng có nhãn GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ CUỐI )



.                                             (tiếp theo và hết)

Những người tị nạn được tập trung vào một khu đất, ở đó những mái lều được vội vã dựng lên san sát như bát úp. Nhưng đối với Thư thì bây giờ nàng lại cảm thấy mình tự do như gió trời. Những người thân thích của nàng không còn ai nữa. Thằng Há đã ngã xuống trên bờ rào nhà cụ Năm Điếc trong hôm ruồng xét. Đó là điều may mắn trong muôn ngàn nỗi bất hạnh của bà mẹ Hoanh, bởi vì nó đã không ngã gục vì chính những viên đạn của thằng anh nó. Chúng nó đã vĩnh viễn, không gặp lại nhau từ ngày thằng Hoanh vô biệt kích Mỹ và biệt tăm không có lấy được một lá thư gửi về thăm nhà. Nhưng như thế là đủ. Như thế là bà cụ có thể yên tâm mà nhắm mắt. Bà đã toại nguyện với ý định sống chết với mảnh đất quê hương cằn cỗi của mình..

Thư rầu rĩ nhìn đăm đăm vào những cột khói đen vẫn còn cuồn cuộn bốc. Nàng muốn thu lại một lần cuối cùng hình ảnh chấm dứt của một đoạn đời mà nàng đã sống vui buồn ở đó. Sau đây nàng sẽ vĩnh viễn từ bỏ khoảnh đất đau thương và tàn phá này để lật qua một giai đoạn mới, có thể là khổ nhọc hơn, bi thảm hơn, nhưng chắc chắn là nó sẽ phải khác những ngày đã qua, nó phải khác với bầu không khí ngột ngạt hiện tại.

Tấm vé xe đò chạy đường liên tỉnh đã nằm trong sắc tay. Thư tiếc là ngày xưa không chịu chụp lấy một tấm hình cho Há, cho Hoanh, cho bà mẹ khổ đau và cho cả chính mình. Nhưng sự tiếc nuối chỉ thoáng qua mỏng manh. Cũng như sự tiếc nuối mỏng manh về mối tình câm nín giữa nàng với chuẩn uý Dũng vậy.

Trước giờ lên xe, Thư ghé vào trại tị nạn một lần cuối cùng. Mọi người nhìn Thư bằng những cái nhìn đối với một kẻ đào ngũ. Tóc Thư vẫn óng mượt. Đôi má phơn phớt hồng. Vành môi chín mọng. Giải khăn tang trắng trên đầu càng làm tăng thêm cho nàng vẻ đẹp của một góa phụ trẻ. Vốn liếng của nàng bây giờ chỉ còn có thế. Nhưng nó cần thiết biết bao đối với một kẻ sắp phải lăn mình vào cuộc sống đầy ánh sáng sa hoa rực rỡ của những thành phố mà cho đến nay vẫn chưa hề biết mùi vị chiến tranh là gì.

Ông Năm Điếc tiếp nàng vội vã vì sắp sửa phải “chủ tọa” một phiên họp. Ông luôn miệng than phiền về cái nhiệm vụ đại diện các gia đình đồng bào tị nạn ở trong trại tạm trú này. Ông phàn nàn với Thư:

- Họp hành gì mà hỗn độn, vô tổ chức, không có kỷ cương gì hết cả. Vấn đề chưa bàn cãi thì bà con cô bác đã quay ra kể lể gia cảnh của mình rồi khóc với nhau tùm lum! Phải cho tôi làm phận sự của tôi với chớ!

                                                          HẾT
                                                                                             NHẬT TIẾN

Vài nhận xét về cuốn "GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN" của NHẬT TIẾN
TRẦN HỒNG DƯƠNG

Đó là cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam, chống Mỹ cứu nước” ? - đó là cuộc chiến tranh “xâm lược của cộng sản Việt Nam” ? - đó là cuộc chiến tranh giữa hai phe “thế giới tự do” và “ xã hội chủ nghĩa...” ? - hàng trăm cuốn truyện đã viết về cuộc chiến tranh này theo cách nhìn tùy thuộc ở phía “bên này” hay “phía bên kia”.

“Giấc ngủ chập chờn” không phe phái như vậy, cuộc chiến trong đó được diễn tả qua cái nhìn của... lão Đối.

Lão Đối là ai vậy?

Là người mà “Bẩy mươi năm không rời khu chợ Lùng lấy vài chục cây số, lão trở nên một hình ảnh gắn liền với những mái nhà tranh, những bụi duối dại, những bờ lau rậm rạp, hay con suối uốn quanh chảy qua cánh đồng gồ ghề nom như một cái thung lũng nhỏ. Cũng vì thế lão yêu mến mảnh đất quê hương của lão đến độ thuộc lầu cả từng biến chuyển dù nhỏ nhặt nhất của cảnh vật chung quanh.”

Lão Đối chẳng phải “quốc gia” càng không phải “cộng sản”, lão thuộc về phe “con người” - con người Việt Nam, những con người sống lam lũ, tử tế, yêu thương lẫn nhau, gắn bó với quê hương, là cây cổ thụ tượng trưng dân tộc mà “một khi có tin dữ bay về, lão lại có cảm giác như... chịu đựng thêm một vết chém mới của tiều phu”.

Cái gã tiều phu ngày ngày bổ rìu vào quê hương xứ sở ấy chính là... chiến tranh. Nó như một trận đại dịch bùng phát hai loại virus mang tên “quốc gia” và “cộng sản” - lây nhiễm toàn bộ thanh niên trai tráng, kẻ nào nhiễm thứ nào thì bị đẩy về phía bên đó và như dẫn dắt bởi một thế lực vô hình nào đó, họ xúm vào chém giết lẫn nhau một cách thiệt tình. Tiêu biểu nhất có lẽ là hai anh em ruột trong gia đình bà cụ Chín, cả hai đã qua một tuổi thơ gắn bó, thương yêu ruột thịt.

“Có bận thằng Há ốm, Hoanh đã ngồi bên cạnh giường nó suốt hai ba ngày liền để có dịp ngắm kỹ cái đầu trọc nhẵn, khuôn mặt choắt cheo, hai mắt lờ đờ, sâu trũng như hai lỗ đáo của nó. Khi đó, thằng Há là tất cả. Hoanh nhường nhịn đủ mọi thứ và chỉ mong mỏi một điều độc nhất là nó khỏi bệnh”.

Ấy thế rồi trời đất đảo điên, âm dương loạn xạ, đùng một cái “Thằng anh đi lính cho bên này. Thằng em lại là đệ tử cuồng nhiệt của chủ nghĩa bên kia. Thằng Há đã thề không đội trời chung với anh của nó. Nó dọa sẽ có ngày cắt tiết thằng Hoanh bằng mã tấu. Hoanh biết thế, tự ái nổi lên đùng đùng, nhắn tin thách thức đứa em diện đối diện, để xem thằng nào cắt tiết được thằng nào. Hắn rất tin tưởng vào hai cánh tay vạm vỡ của mình. Hắn ước ao có lúc kẹp được cổ thằng Há ốm nhom bằng đôi cánh tay cuồn cuộn những bắp thịt để cho nó biết là ai hơn ai.”

Vì sao, vì sao ra nông nỗi ấy? Vì sao thằng Hoanh “quốc gia” lúc nào cũng sẵn sàng xả súng vào “ cộng sản”, và thằng Há thề không đội trời chung với “quốc gia”?

Phải chăng hai anh em nhà nó căm thù nhau chỉ vì một cô Thư xinh đẹp và lẳng lơ? Chẳng phải, sắc đẹp đàn bà không gây nổi những cơn say máu thế?

Phải chăng thằng Há đã “giác ngộ lý tưởng cách mạng” tiến lên “giải phóng miền Nam”, “giải phóng thế giới”? Cũng chẳng phải, gã nhảy theo phe cộng sản chẳng qua là vì cái cớ ngớ ngẩn: ẩu đả trong một cuộc nhậu: “Gã đàn ông vớ ngay lấy chai rượu đập thằng Há một cái vào đầu tét máu. Há sùng quá gầm lên, đạp đổ cái bàn khập khiễng và vớ ngay khẩu súng bên cạnh mình, giơ lên bắn chỉ thiên lia lịa. Rủi cho nó, khẩu súng bị lạc nòng ghim ngay hai phát vào một anh dân vệ ngồi ở cuối bàn khiến kẻ xấu số ngã lăn ra, chết ngay trên vũng máu. Thằng Há hoảng hốt xách súng chạy tuốt luôn vô trong đồng. Nó gia nhập du kích xã với một bản án tập nã: “Bắn chết đồng đội để đào ngũ, có mang theo võ khí!”

Chỉ thế thôi và những con virus chiến tranh đã làm tiếp công việc biến gã thành một tên du kích khát máu, hãm hiếp cả vợ Xê, vốn là vợ đồng đội cũ. Trường hợp “giác ngộ” của thằng Bình lại cũng “lãng sệt” không kém, chỉ vì cái bệnh mê vũ khí, nghe lời rủ rê của thằng Há, hắn ăn cắp súng của dân vệ xã rông tuốt ra khu cộng sản. Rồi Lầu và Đực, hai thằng bạn thân từ nhỏ. Thằng Lầu đăng lính quốc gia, thằng Đực được móc nối làm du kích cộng sản. Việt Nam vốn chẳng phải là xứ sở màu mỡ cho các cuộc chiến tranh ý thức hệ- Phật, Lão, Trang, Chúa Giêsu... vào đây đều phải “chung sống hòa bình”, không gây nổi bất kỳ một cuộc chiến “tử vì đạo” đẫm máu nào. Ấy thế mà khi nghe tin thằng Đực, con lão Đối nhảy ra khu, thằng Lầu “quốc gia” đã tới nói với lão: “Thằng Đực đã theo Cộng Sản thì cháu không còn tình nghĩa gì với nó. Cháu quí bác, mà điều bó buộc cháu phải nói với bác như vậy. Gặp nó, cháu không tha đâu. Cháu xin lỗi bác trước rồi đó.”
Thằng Đực “cộng sản” cũng không vừa, nó vặc lại:

- “Chèn đét ơi! Bộ tía tưởng nó cứ nói rồi là nó ăn thịt được tui ngay đó sao? Tía biểu cho nó hay, thằng Đực sẽ ăn gan của nó trước.”

Thằng đòi “ăn gan”, thằng “uống máu”, ghê gớm chưa? Từ thời vua Hùng dựng nước, đã có cái thời nào “máu me” như cái thời đó? Tại sao? Đến gã lính “quốc gia” là Lầu cũng nhận ra chẳng phải là do “đối kháng ý thức hệ” gì, mà chính vì “Đó là chiến đấu để tự bảo vệ! Thế thôi! Bởi vì trong một cuộc xung đột, kẻ ngập ngừng là kẻ bị hạ trước tiên. Vậy nếu muốn sống thì hãy biết chiến đấu một cách can đảm. Điều này, có lẽ bọn thằng Há, thằng Bình cũng chỉ bị ràng buộc đến thế mà thôi. Chứ chúng nó biết mẹ gì về “Cộng Sản”.
Và ngay cả chính gã, người mang trong người “chính nghĩa quốc gia” thì “...cái chính nghĩa ấy cũng chỉ đem lại cho gã cái cảm giác đẹp chứ không gây được trong lòng gã sự sôi nổi, cuồng nhiệt để có thể khiến cho gã chỉ cần nghĩ đến là đã có được một niềm tin vững vàng... Gã tự hỏi mình chiến đấu cho ai? Những kẻ đồng đội ngã xuống, những thằng bạn thân thiết dâng hiến một cẳng chân, một cánh tay, một khúc ruột, tất cả đã vì cái gì? Vì mấy ông chính khách ư? Họ ở xa quá tầm ý nghĩ của những người như gã. Vì bộ quần áo đồng phục gã mang trên mình ư? Đó chỉ là ý niệm mơ hồ...”

Và chính chị Lầu, vợ gã, người phụ nữ chân chất chẳng bị nhiễm con virus nào đã nhận ra thực chất của đôi bên:

- “Nói là Cộng Sản vậy thôi, chớ tụi thằng Há thì biết cái gì. Nó đọc chưa thông mà. Rồi ngay cả bên đây nữa, nói mình là Quốc Gia, chớ thật ra nào có khác gì nhau đâu. Cũng một ngày chạy ăn hai bữa thôi chớ gì.” Và chị đặt cho chồng một câu hỏi hắc búa: “Nhưng tại sao hai bên lại cứ bắn nhau chớ?” khiến anh ta phải lúng túng: “Ôi! Vấn đề đó cao xa, nói làm gì...”.

Người trong cuộc chẳng ai cắt nghĩa được, nhà văn đành phải huỵch toẹt:

- “Cho nên, nhìn kỹ lại, toàn thể chúng nó chỉ là những nạn nhân bèo bọt của một guồng máy lớn đang chuyển mình. Những bàn tay bấm nút ở tận tít mù đâu đó, có khi chẳng thuộc cùng màu da, cùng ngôn ngữ như chúng nó. Và khi các bánh xe của guồng máy bắt đầu quay tròn, thì thịt da, xương máu của lứa tuổi như gã bây giờ bắt đầu thấm xuống, khiến cho mảnh đất quê hương đã điêu tàn lại càng thêm điêu tàn hơn nữa.”

Cái sự huỵch toẹt này cho dù nhà văn đã gài vào miệng thằng Lầu, vẫn chỉ là câu nói ngoài cánh gà chứ chưa toát lên từ những gì diễn ra trên sân khấu của truyện. Mặc dầu vậy, cái guồng máy chiến tranh ấy cứ thế mà lạnh lùng chuyển động khiến cho không có bất kỳ ai, cả ở phía bên này lẫn bên kia, đứng ngoài được tầm tàn sát của nó. Lần lượt những con người cả hai bên phe “quốc gia” và “cộng sản” đã ngã xuống: thằng Bình, thằng Dụng, thằng Xê, thằng Há, vợ chồng Lầu... Và rồi ngay cả lão Đối, người tưởng như một chứng nhân đứng ngoài cuộc, cây “cổ thụ” ngày ngày chịu đựng những vết chém, cũng bị lôi vào vòng ảnh hưởng của cuộc giao đấu giữa hai bên: bên này là yêu cầu mua thuốc cho con trai là du kích, bên kia là cấm đoán của những người quốc gia. Mặc kệ những tổn thất nhân mạng, những nỗi đau thương tang tóc, guồng máy vẫn lạnh lùng quay, cơn đại dịch vẫn hoành hành ngày càng dữ dội, quét sạch cái xóm Phú Mỹ thanh bình và dồn đuổi tất cả mọi người ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn.

Người chết, nhà cháy, nhưng kỳ lạ thay, vượt lên trên tất cả là cái sức sống bền bỉ của con người Việt Nam, nó giúp cho cái cộng đồng dân cư khốn khổ này tồn tại để vượt qua cơn đại dịch. Sức sống đó không nằm trong những gã đàn ông thuộc cả hai phe đang lên cơn say máu lăn xả vào nhau chém giết như một cuộc tự sát tập thể, thực trớ trêu, sức sống đó lại nằm sâu trong những người “chân yếu tay mềm”, những người phụ nữ mang bản năng làm mẹ còn mạnh mẽ hơn cả súng đạn và ý thức hệ. Bên “quốc gia” có chị Lầu, người vợ, người mẹ dẫu có chết trong đám lửa vẫn để lại một đứa con cho cộng đồng, bên “cộng sản” có cô cán bộ Vấn, trùng trùng vây bủa là thế vẫn không quên nhiệm vụ “hoài thai” để duy trì cái dòng giống Việt Nam.

Nhật Tiến đã làm bật ra cái bản năng tồn tại của dân tộc đó ở cuối sách khi đưa ra hình ảnh cô nàng Thư “Tóc vẫn óng mượt. Đôi má phơn phớt hồng. Vành môi chín mọng. Giải khăn tang trắng trên đầu càng làm tăng thêm cho nàng vẻ đẹp của một góa phụ trẻ. Vốn liếng của nàng bây giờ chỉ còn có thế.”

Vâng vốn liếng của nàng chỉ có thế, nàng đào ngũ khỏi đám người đang tự hủy diệt để lên thành phố - ở đó bằng nhan sắc, bằng lẳng lơ, bằng tính bản thiện chưa nhiễm virus ý thức hệ, nàng sẽ sinh ra những đứa con và chính chúng nó sẽ làm một cuộc hồi sinh mới cho dân tộc mặc kệ nỗi lo của lão Đối: “nhà cửa sụp đổ sẽ còn có cơ hội xây dựng lại, ruộng đất bỏ hoang sẽ còn có ngày được cầy cấy, còn cái sự phá sản tình yêu thương bà con làng xóm, tình nghĩa đồng bào trong chia rẽ, thù hận thì biết đến bao giờ mới hàn gắn lại được đây?”

Liệu có phải đã quá mệt nhọc trong thể hiện những mất mát, chém giết, ngòi bút của nhà văn thoát trở nên sinh động, sảng khoái khi mô tả cái bản năng đàn bà trong chiến tranh.

Đây là cảnh thằng Há trở về nhà với chị dâu khi Hoanh đã bỏ đi biệt kích:

“Rồi bỗng nhiên Thư thấy nóng ở phía đằng sau gáy. Không quay lại nàng cũng biết thằng Há đã lén tới từ lúc nào. Hơi thở của nó mỗi lúc một dồn dập như át tiếng nước đang bắt đầu sôi. Rồi bàn tay của nó đặt lên vai Thư vuốt nhè nhẹ. Thư lắng nghe để phân biệt tiếng động ở nhà trên. Bốn bề thật êm ả như một đêm nào Thư đã cùng với Hoanh chia sẻ sự sung sướng, hồi hộp, lúc hai người gần gũi nhau lần đầu. Bàn tay của thằng Há vẫn như những con rắn êm ái luồn quanh cổ nàng. Thư rùng mình một cái nhẹ rồi ném cây cời lửa vào giữa bếp. Thư thấy cánh tay của Há đỡ lấy giải tóc của mình như một cái gối êm. Nồi canh đã sôi lên, khiến chiếc vung bật mở và những dòng nước tuôn ra ở mép nồi rồi chẩy xuống nghe xèo xèo. Ánh lửa đảo lên một vài vòng rồi vụt thu bé lại. Căn bếp chìm trong bóng tối mênh mông...”

Và đây là cô cán bộ Vấn với du kích Đực:

“Vấn không đón lấy bông hoa mà lại nói:

- Cài lên áo thử coi có ngộ không?

Rồi ngực nàng vươn ra, chờ đợi. Đực bỗng thấy nóng ở mặt. Toàn thân của gã rạo rực. Gã gắng gượng đặt những ngón tay run rẩy lên gò ngực của Vấn. Miệng gã khô đến se đắng lại. Nhưng gã chưa kịp cài bông hoa lên áo của nàng thì Vấn đã ngả người thật nhanh xuống nệm cỏ, bàn tay của nàng vít cổ gã theo. Bông hoa dập nát ngay dưới sức ép của hai người. Vấn nhích người qua, quơ lấy được bông hoa, liền ném nó ra ngoài mái lều. Bông hoa đảo đi vài vòng trong bụi mưa rồi rớt trên một bờ cỏ. Mưa bên ngoài tuôn xối xả chôn vùi ngay những cánh hoa dập nát trong làn bụi trắng xóa mờ mịt...”


Hai đoạn văn như hai bông hoa dại len lén nở trên thềm nhà đang bốc cháy. Nhà cháy, người chết... mặc kệ, ngọn lửa trong lòng người phụ nữ thì không cái gì có thể dập tắt khi nó vốn là sức mạnh để họ hoàn thành cái sứ mệnh “hoài thai”. Không nhăm nhăm mô tả “người lính cầm súng trên chiến hào” như rất nhiều cuốn truyện viết về chiến tranh, Nhật Tiến đi sâu vào cái “đời thường của lính” với những lo toan rất hằng ngày. Lầu lo vợ đẻ, Đực lo thuốc tây cho Vấn, những nồi cháo ếch, cháo kỳ nhông... những trang viết rất cụ thể, sinh động về “đời thường trong chiến tranh”.

Đọc Giấc ngủ chập chờn, người ta không bị mệt mỏi bởi những “đường lối chiến lược”, “chỉ đạo chiến thuật”, những tiến công và phòng ngự, những tướng lĩnh vênh váo và những binh nhì nín nhịn chịu kỷ luật, đọc Nhật Tiến người ta được thấy những phong cảnh thiên nhiên đầy tình người và lãng mạn, những con người bằng xương bằng thịt như bước ra từ trang giấy với những tính cách rất Nam kỳ, được tác giả khắc họa bằng nghệ thuật xây dựng đối thoại rất nhuần nhuyễn ngôn ngữ địa phương.

Và sau cùng, Giấc ngủ chập chờn với giá trị tự thân đã bày ra một nghịch lý: vì sao mãi sau 45 năm, kể từ ngày nó ra đời trên quê hương lúc đó còn đắm chìm trong máu lửa, mà mãi tới nay vẫn còn nhiều người chưa biết tới nó?
TRẦN HỒNG DƯƠNG


Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 20 )





                                     (tiếp theo)

.

Những ý nghĩ ấy làm Há chùn chân lại. Nó cảm thấy mệt mỏi khi nghĩ đến những nhiệm vụ ngổn ngang, chồng chất mà nó sẽ phải làm trong những ngày sắp tới. Há thấy nhớ tiếc thuở ngày xưa còn bé, được bắt nạt anh Hoanh, bắt nạt mọi người dưới vòng tay âu yếm, che chở của mẹ. Bây giờ, hình ảnh còm cõi, già nua này như xa lạ với khuôn mặt rạng rỡ của bà hồi xưa. Há muốn tìm một câu nói nào đó thật dịu dàng để vớt vát lại bầu không khí buồn thảm đang vây quanh, nhưng đầu óc của nó rối loạn cả lên. Tiếng khóc nức nở của bà cụ càng lúc càng to, khiến nó bối rối hơn nữa. Sự bất lực ấy đem lại cho Há một cảm giác khó chịu. Nếu phải vào những giây phút khác thì Há đã văng tục, chửi thề một cách dễ dãi để xua tan đi nỗi bực dọc. Nhưng lúc này, Há lại nhìn mẹ một cách lấm lét. Hồi lâu, nó mới cất tiếng rụt rè:
- Thôi, nào đã có ai sao đâu mà má khóc.
Bà cụ không đáp, càng nức nở thêm. Tiếng Thư từ buồng trong vọng ra gay gắt:
- Thì má đã biểu má không đi, tại sao mầy cứ làm phiền cho má khóc hoài vậy!
Mắt thằng Há long lên, nó hét một cách giận dữ:
- Chị câm cái miệng chị đi. Tôi không thèm nói với chị đâu.
Cánh cửa bật mở và Thư xuất hiện với tất cả vẻ dữ dằn. Nàng quát lên:
- Mày nói cái gì, thử nhắc lại nghe coi, Há!
Câu chuyện có vẻ bắt đầu gay cấn thì bỗng có một loạt súng nổ chát chúa ở ngay gần đó và tiếng người vọng lại lao xao. Mặt thằng Há vụt biến sắc, nó kêu lên:
- Tụi nó càn quét giấc chiều. Thôi chào má, tôi đi đây!
Nói rồi không kịp nhìn lại mẹ một lần cuối, Há phóng mình qua hàng giậu. Những tiếng súng lại tiếp tục nổ giòn và lần này có vẻ gay gắt hơn trước. Thư vội vàng kéo tay bà cụ đứng dậy nói lớn:
- Đi vô nhà, má! Ở đây đạn lạc nguy lắm.
Nhưng bà cụ đã giằng tay Thư ra và chạy bổ về phía ngõ. Vừa chạy bà vừa la:
- Kêu thằng Há lại... Trời đất ơi! Nó chạy vô đồng bây giờ thì nó chết ...
Rồi như điên cuồng, bà cụ gào thất thanh:
- Há ơi! Há!...
Một tràng súng chát chúa nổ gần ngay sát nách làm át hẳn tiếng bà cụ. Thư liệng đôi guốc cao gót qua một bên rồi chạy bổ ra. Nàng thấy bà mất hút sau một rặng dây leo đầy hoa đỏ. Thư cố gắng rượt theo. Đường trong xóm vắng ngắt bóng người, nhưng trên những lối đi tắt băng qua các bờ mương, Thư thấy rải rác có bóng dáng của những anh lính quốc gia hay dân vệ. Họ đang lục soát ở những lùm cây, dưới lạch nước hay trong những đống rơm cao ngất ngưởng.

Tới một khoảng đất trống ngay trước lối vào miễu Bà Lớn, Thư bắt kịp mẹ Hoanh. Bà cụ đang đứng lẫn lộn giữa một đám đông người. Nàng nhận ra Trung úy trưởng đồn Phi Mã với đoàn tùy tùng của ông ta. Họ đặt bộ chỉ huy cuộc hành quân lục soát ở đây. Một số đồng bào toàn người già, đàn bà hay con nít được lùa ra tập trung lố nhố trong một chu vi hẹp có lính hờm súng bao quanh.
Bộ phận máy truyền tin hoạt động tới tấp. Những tiếng lóng, những mật hiệu, những khẩu lệnh ngắn được gọi đi rộn rịp làm mọi người hướng mắt tất cả lại với vẻ tò mò, ngơ ngác. Riêng bà mẹ Hoanh vẫn còn đang giằng co trong tay một người lính trước mặt ông trung úy. Thư nghe thấy bà cụ la lên:
- Trăm lậy Trung úy... nghìn lậy Trung úy, xin Trung úy tha cho nó tội nghiệp. Nó là du kích nhưng anh nó là quốc gia. Anh nó có công với chính phủ...
Tiếng la của bà cụ bỗng bị chìm bẵng đi trong một dây đạn nổ giòn ở mé bên kia bờ mương. Chợt có tiếng người thét lớn:
- Nó đấy! Nó đấy!.. Thượng sĩ coi chừng, nó có súng ...
Những băng đạn khác lại ào lên, nổ chát chúa. Rồi bỗng có tiếng reo hò và tiếng chân chạy rậm rịch. Thư bủn rủn cả chân tay và nàng muốn khuỵu xuống. Bên tai nàng, tiếng bà mẹ Hoanh gào lên thảm thiết:
- Con ơi! ... Ới con ơi ...
Bây giờ thì bà đã nằm sóng sượt trên mặt đất. Mái tóc bạc trắng của bà xổ tung ra. Hai bàn tay khẳng khiu, cằn cỗi của bà cào thành từng vết sâu trên lớp đất bùn nhớp nháp....


CHƯƠNG CUỐI


Thư đứng ở trên một gò cao nhìn về phía có những cột khói đen lớn. Không gian mờ mịt với một khoảng trời u ám, ẩm sũng. Ấp Vĩnh Hựu, cầu chợ Lùng, Đồn Phi Mã và những vùng phụ cận nằm trọn ở đấy.
Trận đánh ác liệt đã xẩy ra từ hồi đầu tuần đến bây giờ vẫn chưa chấm dứt. Tiếng súng lớn ầm ì vọng lại hầu như liên miên bất tận. Trong bầu trời dầy đặc những đám mây xám xịt mầu chì, tiếng động cơ máy bay rền rĩ suốt đêm ngày. Thỉnh thoảng một dây bom lại được trút xuống làm rung chuyển cả mặt đất. Nhìn khung cảnh tàn phá trước mặt, Thư không ngờ mình lại dửng dưng đến thế. Không một kỷ niệm nào đem lại cho nàng đôi chút xao xuyến. Hình như bom càng lớn, cột khói càng lên cao, thì dĩ vãng càng mau chóng thi nhau tan biến trong tâm trạng thờ ơ của nàng.
Bởi vì còn gì có thể nhớ tiếc khi tất cả đều đã bị hủy diệt trong khoảnh khắc. Cây đa không còn, mái bếp cũng không, sân đất nhỏ hẹp với chum nước mưa cố hữu mà Thư vẫn thường tắm về đêm cũng đã hoang tàn. Ngay cả những con đường thân thuộc với bụi duối dại mọc hai bên lề cũng bị cầy nát. Sự mất mát xảy ra quá nhanh, quá phũ phàng khiến cho lòng mọi người như trơ lại.
Đã có lúc ngồi dưới mái lều trong trại tạm trú, Thư lên tiếng hỏi bà cụ mẹ chị Lầu:
- Nhà tan cửa nát, cụ tiếc không?
Bà cụ giương đôi mắt gần như mù lòa, hướng về chốn cũ rồi thở dài:
- Người còn chẳng tiếc được, tiếc chi nhà cửa, đất cát.
Vừa nói bà cụ vừa nâng thằng Hòa lên với vẻ xót xa. Nó bụ bẫm như một thiên thần, thằng thiên thần mồ côi ngay từ khi còn đỏ hỏn. Khi tiếng súng đầu tiên nổ ở ngoài cánh đồng, bà cụ vẫn không có ý định rời bỏ chốn cũ. Ba mẹ con, bà cháu rúc xuống hầm đất dưới gậm giường. Chị Lầu ngơ ngẩn:
- Chắc có anh Lầu đi ngoài vuờn.
Bà cụ im lặng không nói. Chị trao thằng Hòa cho mẹ chồng rồi bò nhoài lên miệng hầm. Bà túm ngay áo chị, cố kéo lại. Chị cằn nhằn:
- Sao má không để con ra đón ảnh. Thế nào ảnh cũng ghé về thăm nhà mà, má!
Bà cụ gắt lên:
- Nó về sao được. Nó còn mắc đi hành quân. Mày chui ra bây giờ, mũi tên hòn đạn dữ dằn thế kia, làm sao mà tránh.
Chị Lầu ngoan ngoãn ngồi vào một góc. Bóng tối lờ mờ từ trên hắt xuống soi thấp thoáng khuôn mặt võ vàng của chị. Ngày xưa chị ít nói, từ ngày anh Lầu bị thằng Đực phục kích chết, chị càng ít nói hơn. Rồi bỗng nhiên chị sinh ra cái tật chỉ đối thoại với chính mình. Chị thủ thỉ như có anh Lầu đang ngồi âu yếm bên cạnh chị. Những lúc đó, hai mắt của chị rực sáng, vẩn lên những tia máu đỏ ngầu. Nhưng cơn điên khùng của chị chỉ ở trong mức độ nhẹ nhàng ấy thôi. Chị lôi quần áo của anh Lầu ra may vá. Nhiều hôm chị kêu anh ở dơ rồi mang tất cả quần áo của anh ra giặt giũ ngoài bờ mương. Một lần ông Năm Điếc đi thăm mộ thằng Dụng trở về, trông thấy bèn ngừng lại hỏi:
- Chị Lầu làm chi đó?
Chị ngẩng lên cười sung sướng:
- Con giặt đồ bác ơi!
Lão tiến lại gần chị, chỉ trỏ vào những bộ quần áo đàn ông:
- Tổ cha mấy thằng du kích, bắt dân hầu hạ đấy có phải không?
Chị Lầu nhớn nhác:
- Đâu? Du kích đâu hả bác? Chết rồi! Bác bảo anh Lầu trốn đi.
- Mày nói cái gì?
- Cháu lậy bác. Bác đừng chỉ chỗ anh Lầu ở đây nghe không.
Chị Lầu vội vùi đống quần áo xuống bùn sâu rồi ngỏn ngoẻn đứng dậy, cầm cái chổi làm bộ quét sân. Lão Năm trố mắt ra nhìn. Bà cụ Lầu từ trên thềm cao bỗng trõ xuống nói:
- Nó khùng, đừng có chấp nó, ông Năm.

Lão Năm Điếc quay lại nhìn. Trông thấy bà cụ, lão mỉm miệng cúi đầu chào. Bà cụ tiếp:
- Ngó vậy mà nó không dữ dâu, ông Năm.
Ông Năm gật đầu lia lịa:
- Phải, phải.. tôi thấy cả đoàn xe súng lớn đi qua cầu. Nhưng như thế thì không dữ sao được. Liệu mà chạy đi thôi.
Rồi ông hấp háy cặp mắt nhìn về phía quốc lộ. Người ông cao lêu đêu, mái tóc bạc trắng gần đụng chùm hoa xoan lả ngọn xuống gần bờ mương. Quần áo của ông đầy bùn và đất, ống quần được xắn lên ngang đầu gối để lộ hai cẳng chân khẳng khiu trắng bệch như hai ống sậy. Một trận gió ào qua lùm cây. Những giọt nước mưa còn đọng lại rớt xuống đất lộp bộp. Ông khẽ rùng mình, vội giương cây dù rách lên cao. Rồi ông vừa đi vừa nói lớn:
- Thằng Dụng rồi. Thằng Sách rồi. Thằng Há rồi. Thằng Lầu rồi. Sao mãi chẳng tới lượt mình đây?


*.
                              *
Đời sống trốn tránh, thập thò dưới hầm trú ẩn kéo dài được đúng ba ngày. Đến mờ sáng thứ tư thì lửa bắt đầu cuồn cuộn bốc ra từ một đám cháy sau một loạt súng lớn nổ rung chuyển khắp khu vực Đầm Tròn. Những cuộn khói đen bị cuốn đi bởi những cơn lốc quây tròn càng làm ngọn lửa bốc cao hơn, nom xa như một con con rồng lửa. Mọi người chạy túa ra ngoài như những đàn chuột bị hun khói. Tiếng chân chạy rầm rập xen lẫn tiếng kêu gào, la khóc nhiều lúc chìm lỉm đi dưới những tiếng nổ kinh hoàng làm rung chuyển bờ cây ngọn cỏ. Đoàn người tị nạn ùa lên nằm la liệt bên bờ đê ven quốc lộ. Không gian sáng rực như ban ngày vì ánh hỏa châu xen lẫn với những làn chớp sáng rực của từng quả đạn xé tan bầu trời.
Ở trong ấp Vĩnh Hựu, căn nhà của mẹ Lầu bị lửa phát cháy ngay trên đầu hồi. Khói mù mịt tuôn xuống miệng hầm sặc sụa. Chị Lầu nổi cơn điên túm chặt lấy thằng bé không rời chỗ nấp và nói luôn mồm:
- Để chờ ba nó tới đón đi.
Hai mẹ con vật lộn giằng co. Bà cụ xốc được thằng bé lên tay và đạp cửa chạy thốc ra được bờ mương. Chị Lầu kẹt trong đám khói không thoát ra được. Như vậy, cuối cùng chị đã thoả mãn ước nguyện:
- Để chờ ba nó tới đón đi.
Bây giờ ngồi nhắc lại thảm kịch kinh hoàng đó, bà cụ lại khóc lên nức nở:
- Phải chi tôi kéo được nó theo tôi. Phải chi tôi rủ nó đi sớm. Phải chi nó đừng giở chứng bất thần...
Và còn cả trăm lý do khác nữa bắt đầu bằng tiếng “phải chi” đó gậm nhấm tâm hồn già nua, cằn cỗi của bà cụ, khiến cụ như thấy mình bị giam hãm suốt đời trong tiếc hận.

                               (còn nữa)


Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 19 )

                                        (tiếp theo)


Đực đặt tay lên mình nó. Gã thấy hầu như không còn hơi ấm. Sách nói tiếp, giọng mỗi lúc một mê sảng:
- Mình chia nhau cái chăn nhé... đỡ đỡ thôi mà... Rồi khi hết bom đạn, đất nước hòa bình, mỗi đứa sẽ có riêng một cái chăn, Dụng nhỉ!
Đực nhìn vào mắt nó nghi ngờ. Hai vành mi của Sách như sắp cứng lại. Gã hốt hoảng giơ tay lay mạnh người Sách. Sách bỗng mở choàng mắt ra, nhưng ánh sáng chói chang lại làm nó nhắm lại. Đực kêu lên:
- Sách à .. Sách!
Mí mắt của Sách hơi nhướng lên. Vành môi khô héo của nó mấp máy. Một lát, nó thều thào:
- Anh Đực... Anh Đực đó phải không?
Đực mừng rỡ:
- Đực đây... Đực đây...
- Cho em uống nước nữa đi... Em khát quá!
Đực tần ngần:
- Uống nhiều quá không tốt. Ráng một chút đi.
- Em lậy anh... em khát!
Đực thở dài đứng dậy. Gã lại đem về một vốc nước. Nhưng lần này những giọt nước trong mát không làm vành môi của Sách lay động. Đực vội vã xốc lưng nó dậy kêu to:
- Sách! Sách ơi!
Nhưng thân hình của Sách bây giờ chỉ còn là vật vô tri trong tay gã. Trên khuôn mặt non dại của nó, gã như còn thoáng thấy những nét đau đớn làm cho dúm dó lại.

                                                      CHƯƠNG 9
Thế là trận đánh lớn nhất mà mọi người cả bên này lẫn bên kia chờ đợi đã thực sự mở màn. Thoạt tiên, chủ lực Miền xuất hiện đông đảo ở vùng núi tiếp giáp địa phận Hòa Phong, Hòa Mỹ. Rồi những quả trọng pháo đầu tiên được rót vào một giải quận lỵ nằm dọc theo quốc lộ số 1 từ Phú Sơn xuống chợ Lùng. Các chuyến xe dân sự bị đình trệ hoàn toàn. Những đoàn công-voa tải đạn, tải quân nhu, tải binh lính liên tiếp bị giật mìn. Mặt lộ nát bấy vì những hố đào, những mô đắp hay những chướng ngại vật nằm ngổn ngang khắp mọi chỗ.
Ở trực thăng nhìn xuống, nhiều ngôi làng trù phú nay chỉ còn là một vùng đất chết. Nhiều khu vực cây cối xanh tốt bây giờ chỉ còn trơ ra một nền đất cháy xám, các thân sồi đổ ngả nghiêng, phơi ra những cành trơ trụi lá. Trên những cánh đồng xám xịt, trơn láng, từng đoàn dân chúng gồng gánh, bế bồng đội mưa kéo nhau lũ lượt chạy. Những nét kinh hoàng, khiếp đảm in rõ trên từng khuôn mặt bàng hoàng, sớn sác như những cánh chim lìa đàn. Có những vành khăn trắng quấn vội trên đầu lũ con trẻ, các thiếu phụ và các cụ già với mái tóc bạc phơ. Tiếng sụt sịt xen lẫn tiếng than van, kể lể, cầu nguyện. Tình cảnh đớn đau, sầu thảm bao trùm lên khắp một giải đồng quê ngùn ngụt đạn, bom, khói và lửa.
Trước đó hơn hai tuần lễ, tiểu tổ du kích của thằng Há đã nhận được nhiều tài liệu phải học tập gấp rút. Đầu tiên là tài liệu mổ xẻ về thằng Sách và thằng Đực đơn phương hành động trong vụ ném lựu đạn chuyến xe lam chạy trên quốc lộ vào sáng ngày 26 tháng 5 bắt buộc tất cả mọi người phải rút kinh nghiệm học tập:
“ Tác phong đề cao anh hùng tính cá nhân, coi thường tập thể, vô kỷ luật, bất chấp mọi nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Đoàn, vi phạm nghiêm trọng tinh thần hiệp-đồng công tác chiến đấu trong giai đoạn chuẩn bị. Hơn thế nữa, còn gây hoang mang trong mọi tầng lớp quần chúng, làm sút giảm hiệu năng hậu thuẫn của quần chúng, tạo phẫn uất trong hàng ngũ Tề, Ngụy, đem lại cơ hội tốt cho bọn chúng bồi dưỡng tinh thần chiến đấu, thống nhất tư tưởng, chuẩn bị kỹ lưỡng việc bố trí canh phòng, bảo đảm trinh sát tuần tra, phòng ngự, gây khó khăn phức tạp cho toàn thể Đảng viên, Đoàn viên, Cán bộ, Chiến sĩ trong tiến trình trước, trong và sau khi chiến đấu...”.
Với những lời kết tội nghiêm khắc như vậy, người ta đã đủ nhìn thấy số phận của thằng Đực sẽ ra thế nào sau những buổi kiểm thảo gắt gao từ hôm gã được gọi về trình diện Ban Quân Sự 1(Cấp liên tỉnh).
Tài liệu thứ hai nói về công tác Đảng và công tác chính trị trong nhiệm vụ đẩy mạnh chiến trường mùa mưa, với những chỉ thị:
“ Nêu cao vai trò của cán bộ Đảng viên, Đoàn viên, kiên quyết chiến đấu gương mẫu, hành động quả cảm, phát huy sáng kiến, nâng cao tính cơ động mưu trí lãnh đạo đơn vị, chấp hành tốt chỉ thị của Đảng, tăng cường đoàn kết, nhất trí từng người, từng tổ, từng đội, tổ chức học tập thường xuyên để mọi người hiểu rõ nhiệm vụ cá nhân mình một cách đầy đủ, chính xác, từ lúc tập kết chiếm lĩnh trận địa xuất phát tấn công, đến các phương án tác chiến trù liệu trong những khó khăn, phức tạp của các tình huống chiến đấu gay go, quyết liệt….”

Trong bầu không khí sửa soạn gấp rút, nghiêm trọng ấy, thằng Há biết rõ tình hình đang diễn tiến mạnh mẽ và chắc chắn sẽ có nhiều biến cố lớn lao. Nó hối hả dục mẹ và Thư:
- Không thể chần chờ được nữa. Chuyến này mà không đi nữa là chết.
Bà cụ cương quyết:
- Đi đâu? Nhà cửa thế này, tao lại già cả, mày định bảo tao đi đâu?
- Thì tôi dẫn má ra khu ở. Trong đó thiếu gì công tác cho người già như má.
Thư mỉm cười:
- Nếu có đi thì đi về tỉnh, chớ ra khu để ăn củ chuối với khoai mài à?
Há tức giận nhìn chị dâu:
- Chị nói năng gì mà kỳ cục vậy. Ừ, nếu có phải ăn củ chuối với khoai mài thì đâu có phải chỉ có một mình chị. Kháng chiến, cách mạng trường kỳ, đồng cam cộng khổ, thì ai cũng phải hy sinh như ai chớ .
- Tôi chả dại! Dẫu sao thì ở tỉnh có khổ đến đâu cũng chả thế nào phải chịu bữa đói bữa no. Lý tưởng cái gì cho bằng dạ dầy khỏi xẹp lép, hả chú.
- Chị nói vậy mà không thấy nhục nhã với tinh thần cách mạng đang lên trong hàng ngũ quần chúng sao? Anh Hoanh bỏ chị mà đi một cách ngang xương như vậy, đáng lẽ chị phải giác ngộ để mà tham dự vào sự nghiệp lớn lao chung chớ...
- Chú đừng nài nỉ vô ích. Cuộc đời của tôi, tôi đã sửa soạn, tính toán kỹ càng rồi.
Bà cụ thở dài:
- Tụi bay muốn tính gì thì tính nhưng sự thể là không có tao. Một đời tao khổ sở, lận đận quá nhiều rồi, thêm một bận nữa có làm sao.
Há đe đọa:
- Bộ má tưởng chỉ có chịu khổ không mà thôi sao? Tình hình đã thay đổi toàn diện rồi. Cả một khu vực này nằm trong địa bàn của chiến cuộc. Chỉ có một là đi, hai là chết, thế thôi, chớ không còn gì để mà lựa chọn nữa cả.
Bà cụ cười khẩy:
- Hờ... Bộ mày tưởng tao sợ chết lắm hay sao? Tao còn cầu con ạ. Thời buổi này một ngày sống là một ngày nhục, ham gì!
- Thôi! Nói như má thì hết đường, khỏi bàn tới bàn lui cái gì nữa. Sau này có làm sao, có chị Thư làm chứng, má đừng trách tui không biểu.
- Ai rỗi hơi! Vả nếu có chết rồi thì trách cũng chẳng làm gì, con ạ.
Bà cụ đứng dậy, vừa nói, vừa đi vào sụt sịt khóc. Thư và Há im lặng nhìn nhau. Một lát Há lên tiếng trước:
- Thành khẩn mà nói, tôi đề nghị chị Thư ra ngoài đó công tác. Những người như chị, cách mạng rất cần. Nếu chị quên anh Hoanh thì tôi xin được xây dựng với chị.
Thư nhìn nó ngạc nhiên rồi bỗng nhún vai:
- Quên anh Hoanh thì tôi quên từ lâu rồi. Nhưng xây dựng với chú thì không đâu.
- Tại sao? Giữa tôi với chị dù thế nào thì cũng....cũng....
- Chuyện cũ dẹp cho qua đi. Nó không bao giờ lại tái diễn nữa đâu.
- Tại sao vậy?
- Chẳng tại sao hết trọi. Tôi thích thì tôi làm, đến lúc không thích nữa thì thôi!
Miệng Há nhếch một nụ cười mỉa mai:
- Tôi nghe tụi nó đồn chị mê thằng chuẩn úy Dũng.
- Đứa nào đồn như vậy?
- Chuyện tùm lum ra rồi mà chị còn tính giấu. Hôm bọn thằng Đực chận xe, tung lựu đạn, thằng Lầu chết tốt còn thằng Dũng bị miểng lựu đạn ở chân, chị có vô nhà thương thăm nó mà.
- Thì đã làm sao! Ổng là sếp cũ của anh Hoanh mà.
- Tổ xạo! Tới chính anh Hoanh bị thương chưa chắc gì đã được chị ngó ngàng nữa là sếp của ảnh!
- Chú đừng có hỗn. Đừng quên chú là em tôi đó nhé.
- Em với chị cái gì. Tôi hết là em từ buổi tối bữa đó rồi kìa!
Mặt Thư vụt đỏ bừng lên. Nàng quơ lấy cái ly trên bàn đập mạnh xuống đất rồi la lớn một cách giận dữ:
- Đồ bất nhân! Cút ngay ra khỏi chỗ này! Không ai còn chịu nổi mày nữa rồi.
Há bật lên cười lớn. Tiếng cười ngạo nghễ, bỡn cợt còn khiến Thư tức giận bằng trăm lời lẽ hỗn xược của nó. Nàng xăm xăm bỏ ngay vào trong buồng, đóng xập cánh cửa lại. Tiếng động ồn ào làm bà cụ hớt hải chạy ra, cặp mắt còn hoe đỏ:
- Cái gì thế, lũ bay?
Há không đáp, nhìn mẹ một giây rồi nhún vai bước ra. Tới ngưỡng của, nó chợt ngừng lại, đứng tần ngần. Bỗng nó quay lại bùi ngùi nói:
- Trời đất này, tôi đi về thất thường chớ không như trước nữa đâu. Má đừng có trông.
Bà cụ nhìn nó miệng mếu đi. Há tiếp bằng một giọng hài hước, chua chát:
- Mà rồi biết đâu, khi tới số thì tôi đi là đi luôn, đó má.
Bà cụ bỗng ngồi phệt xuống bậc cửa, òa lên khóc. Há có vẻ lúng túng hơn so với cử chỉ ngang tàng lúc trước. Lần đầu tiên nó ý thức được tuổi già yếu đuối và cô đơn của mẹ. Mái tóc của bà cụ gần bạc trắng. Đôi vai gầy, nhô lên sau lần vải nâu cũ kỹ. Làn da dúm dó, nhăn nheo. Từ lâu lắm rồi Há không còn nom thấy mẹ cười. Thế mà đã bao nhiêu năm nay nó không để ý đến điều đó. Há thầm tiếc những phút giây gần gũi ngắn ngủi vừa qua. Đáng lẽ nó phải làm mọi người vui vẻ hơn để mình được tiễn đưa bằng nụ cười. Nụ cười rất cần thiết, nếu quả thực “ Biết đâu tới số thì tôi đi là đi luôn, đó má ".
                                           (còn tiếp)

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 18 )



                                    (tiếp theo)


 Riêng chuyến xe lần này đã không rơi vào sự tình cờ chết người ấy. Bởi vì Đực đã rình mò ngay từ buổi sáng tinh mơ. Từ hôm nghe tin lão Đối bị giải lên tỉnh, Đực cay đắng nuôi nấng nỗi căm thù bằng sự im lặng cố hữu của gã. Gã hỏi thăm cặn kẽ về những chi tiết xoay quanh vụ bắt bớ gây sôi nổi trong dư luận của mọi người ở cầu chợ Lùng. Gã không quên hình ảnh thằng Hưng một bên, thằng Trọng một bên, lão Đối tóc râu dựng ngược giận dữ đi ở giữa. Lót tót theo sau đuôi là thằng Lầu, mặt cúi gầm như tố cáo đích danh nó là kẻ chủ động, bầy đặt ra vụ khám xét để bắt giam một người kỳ cựu như lão Đối.
- Tổ cha con nhà Lầu. Tao sẽ bắn nó như bắn một con chó. Mầy khứng giúp tao tổ chức vụ nầy không?
Đực hỏi ý kiến thằng Há như vậy. Nhưng Há gạt đi:
- Mầy không thông suốt chỉ thị sao? Thời gian nầy mình chỉ thi hành công tác điều nghiên tình hình hoạt động ngày đêm của bọn Tề, Ngụy theo lệnh của Ủy ban Quân sự 1, tức cấp liên tỉnh thôi. Còn những loại hoạt động bá láp bá xàm có phương hại đến công tác chuẩn bị mặt trận mới thì thôi đi. Để nuôi dưỡng cho chúng nó tinh thần cầu an, hưởng thụ, lạc quan tếu, nhận định sai lầm thì sau nầy đánh mới chắc ăn. Mầy nhớ không?
Đực bực mình:
- Mầy không cần phải dậy dỗ tao những cái điều sơ đẳng đó. Tao chỉ hỏi: mầy có khứng giúp tao không, thế thôi.
- Tao chẳng chơi. Rồi bị tố cáo phá hoại kế hoạch chung, ai ăn ai chịu đây?
Đực chán nản bỏ đi tìm thằng Sách. Sách lúc này vẫn nằm dưỡng thương trong hầm nhà ông Năm Điếc. Vết thương của nó đã khép kín và bắt đầu lên da non. Đã nhiều lần nó năn nỉ Đực điều động cho nó ra khu sinh hoạt nhẹ. Nằm mãi trong hầm khác nào bị chôn sống và chết lần trong mòn mỏi. Đực vẫn an ủi nó:
- Mầy cứ yên trí nghỉ ngơi bồi dưỡng tinh thần chiến đấu đi. Sắp sửa có nhiều công tác quan trọng được giao cho mầy. Chỉ lo rồi tới đó, tinh thần của mầy sút kém, sợ khó sợ khổ, chấp hành mệnh lệnh trù trừ, do dự, thiếu khẩn trương, thiếu chính xác thôi.
Bây giờ Đực lại tìm đến nó và hỏi:
- Chân của mày sử dụng ra làm sao?
- Mười phần hết bẩy, tám rồi.
- Đi lại mạnh bạo rồi chớ?
- Ui! Chạy tới chạy lui cũng còn được.
- Mầy ưng theo tao ra quốc lộ chặn mấy thằng chạy xe lam, hù một chuyến chơi không?
- Chà! Cấp này có măng cụt, anh cho phép em hốt ít chục xài cho đỡ thèm, được không?
- Gì cũng được. Nhưng không chắc ăn như mày tưởng đâu. Phải tới đó rồi tính.
- Em phải làm nhiệm vụ gì đây?
- Hộ vệ cho tao lúc tao ra chặn đường.
- Dễ ợt!
- Mà điều chớ bắn càn. Chỉ nguy cấp lắm mới nổ súng thôi, nghe không.
Hôm sau, Chủ Nhật, hai đứa lầm lũi kéo nhau đi từ sớm. Đực thuộc lòng thói quen của Lầu. Gã ngụy này có một khuyết điểm trầm trọng là luôn luôn giữ đúng giờ giấc. Điều đó khiến bọn thằng Há, thằng Đực nghi ngờ trình độ kỹ thuật tác chiến của bọn cơ hữu trong đồn Phi Mã. Nhưng cũng có thể là bọn này chủ quan, khinh địch. Thằng Hoanh đã chả từng nói: “Mấy thằng du kích chuột nhắt ăn nhằm gì” đó sao? Trong óc thằng Đực đã vẽ sẵn mọi diễn tiến, nếu tình hình êm xuôi thì sẽ xẩy ra như sau: “ Tám giờ, Lầu đổi phiên gác ở pháo đài số 5, hướng quay mặt về quốc lộ. Nó sẽ ra cổng đón xe về cầu chợ Lùng thăm vợ đang nằm ở nhà hộ sinh. Chiếc xe sẽ bị chặn ở khúc đường vòng, chỗ có ngã rẽ đi xuống Đầm Tròn. Nếu thằng Lầu đi một mình, thì sẽ uy hiếp mà lôi nó vô đầm, để vào đúng giữa trán nó một viên kẹo đồng sau khi kể tội của nó. Nhưng nếu nó đi đông hơn thì Đực sẽ chỉ tung được vô gầm xe một quả lựu đạn mà không lại gần. Kinh nghiệm cho thấy, mỗi toán chúng đi quá ba người thì thể nào bọn Đực cũng đụng phải phi Garant M1 thì cũng là Carbine M2. Cả hai loại súng này đều hữu hiệu hơn mấy khẩu Label cũ kỹ của bọn Đực. Nhưng chuyện chúng đi cả toán như vậy cũng ít khi xẩy ra. Bởi vì ngày Chủ Nhật, tuy có nhiều đứa về cầu chợ nhưng phần đông đều tháp tùng xe chở gạo có hộ tống đi từ sáng tinh mơ kia rồi.
Ý nghĩ ghim được vô trán của Lầu một viên kẹo đồng khiến Đực thấy lòng hứng khởi hơn. Bao nhiêu ngày nay rồi, Đực chưa nghĩ đến chuyện gặp lại Vấn. Nó phải dàn xếp công chuyện này xong xuôi đã. Để trả lời Vấn về sự thất bại trong công việc mà Vấn đã giao phó: thuốc men Vấn gửi không mua được, ông già lại bị bắt mang đi. Như thế mà chịu bó tay, không làm được gì thì nhục quá! Câu chuyện phải có phần kết mới đủ đầu đuôi. Phần kết đó phải là sự chấm dứt cuộc đời của Lầu, kẻ chủ mưu tố cáo lão Đối. Thằng phản động phải đền tội!
                                                    

* *

 *
Tiếng máy nổ nghe mỗi lúc một gần. Rồi bóng dáng quen thuộc của chiếc xe hiện ra ở đầu ngã rẽ. Đực nhìn thấy ngay một đứa ngồi cạnh bác tài, chắc chắn trên đó không ai ngoài gã chuẩn úy Dũng. Thói quen của Dũng, bọn này cũng đã học tập thuộc lòng. Còn thằng Lầu chắc ngồi ở băng sau.
Chiếc xe gần đi vào tầm súng, tốc độ lao đi như tên bắn. Không trù trừ một giây, Đực nhắm mũi xe nổ một phát chát chúa. Nó tống ngay viên đạn thứ hai lên nòng và nổ thêm một phát nữa. Chiếc xe lồng lên, chạy băng qua trước mặt nó, lảo đảo như một con thú bị thương rồi chúi mũi vào một bụi duối ở ven đường. Đực nhìn thấy Dũng tung mình ra khỏi xe, lăn tròn trên nệm cỏ. Ở phía băng sau, tiếng của thiếu phụ la thất thanh kèm theo tiếng khóc ré lên của đứa trẻ. Đực nhìn thấy rõ cái bóng cao lớn của Lầu nhẩy vội vàng ra khỏi xe. Tiếng súng ròn rã bắt đầu xé bên màng tai Đực và đi vun vút. Không phải tiếng nổ ở súng của thằng Sách. Tổ cha thằng cù lần. Không biết nó làm ăn cái gì mà bây giờ chưa phản pháo? Đực hét lên:
- Sách! Mầy làm cái gì đó?
Sách lúng túng:
- Em kẹt! Viên đạn thối này móc không ra.
- Đ. M. Cù lần! Thế mà cũng đòi ăn măng cụt.
Rồi Đực thấy đau nhói ở vai. Thế là nó đã bị ghim trước rồi. Thằng Lầu vậy mà lẹ làng hơn nó tưởng. Lại thêm gã chuẩn úy Dũng cũng là dân chịu chơi. Đực thấy ngay tình thế bất lợi của mình. Nó rút chốt quả lựu đạn nội hóa và tung ra. Hai tiếng nổ long trời như cùng phát ra một lượt. Thế là thằng Sách cũng đã xài đến “bình mực” của nó rồi. Phải chuồn lẹ thôi. Đực nhân lúc bụi cát bay mù mịt bèn chạy xổ về phía thằng Sách. Nó túm được bàn tay nhỏ bé của Sách kéo dậy. Sách lúng túng vì cẳng chân yếu ớt của mình. Hình như mặt nó nhăn lại đau đớn. Đực hối hả:
- Chạy lẹ được không?
- Em đau quá...
- Đ.M. Ráng lên!
Sách cố ráng hơn nữa. Nó xách cây súng chạy lao về phía những luống ngô mới mọc. Thằng hết sức ngu độn. Cái đầu không cúi thấp xuống, cái lưng cũng chẳng khom lại. Nó chạy ngờ ngờ như ngày xưa hồi còn yên bình Đực đã chạy thi với nó, với Lầu và bao nhiêu thằng con trai khác nữa. Rồi bỗng nó thét lên. Bàn tay của nó bấu chặt lấy cánh tay của Đực một cách khác thường. Đực liếc mắt nhìn sang phía nó. Gã thấy khuôn mặt của nó dúm lại. Nước da tái xanh, trên vầng trán phẳng những giọt mồ hôi sấp ra ướt đầm chân tóc. Rồi năm ngón tay của nó run lên, sức mạnh túm chặt lấy Đực lúc mới rồi như nới lỏng ra. Lòng Đực nóng như lửa đốt.. Gã giục giã:
- Ráng lên! Ráng lên! Sắp vô đầm rồi.
Nhưng thằng Sách đã rũ hẳn xuống. Bây giờ Đực trông thấy lưng áo của nó đầm đìa những vết máu. Tai gã ù lên. Hai mắt gã như bị bưng kín bởi một màu lốm đốm đỏ rực. Gã nghiến răng cúi xuống xốc thân hình còm cõi của Sách lên vai. Từng giọt máu nhỏ xuống nền đất in thành những vệt đỏ thẫm. Sức nặng của Sách làm Đực loạng choạng. Gã cố đứng thẳng dậy rồi lao nhanh vào bụi duối um tùm. Tiếng súng hình như không còn đuổi theo nữa, nhưng vẳng lại từ đằng xa có tiếng la hét hãi hùng của người bị nạn. Có thể là tiếng thiếu phụ ngồi ở băng sau, cũng có thể là tiếng thằng Dũng hay thằng Lầu. Nếu không kẹt thằng Sách thì Đực đã vòng trở lại.
Bây giờ mình mẩy của Sách mềm sèo trên vai Đực. Gã nghe thấy nó rên rỉ một cách yếu đuối bên màng tai. Gió lồng lộng thổi làm vẻ mặt của nó thêm tái nhợt lại. Cặp môi mỏng quẹt của nó tuy mím chặt nhưng mỗi lúc một thêm run rẩy. Đực có cảm giác như máu của nó đang chẩy ra ướt đẫm cả lưng của mình, và điều đó khiến gã thấy quên hẳn vết thương bỏng rát của gã ở bắp tay. Gã tìm một chỗ khuất bên bờ Đầm Tròn để đặt thằng Sách nằm nghỉ. Gã xé mảnh áo của mình đem buộc tạm vết thương trên mình Sách. Mặt Sách nhăn nhúm lại vì đau đớn. Tiếng rền rĩ của nó nghe lớn hơn. Rồi nó đòi Đực cho uống nước. Đực tìm một vũng nước trong, vốc lên bàn tay và nhễu chậm chậm trên vành môi khô héo của nó. Bây giờ nó có vẻ tỉnh táo hơn và mở lớn mắt nhìn lên khoảng trời xanh bao la trên đầu. Đực mừng rỡ hỏi nó:
- Không hề gì lắm chớ?
Sách gượng mỉm cười, lắc đầu. Rồi nó nói:
- Mình thắng chớ, phải không?
Đực gật đầu lia lịa. Sách tiếp:
- Phải vậy chớ. Mình chủ động chiến trường mà... Anh có lấy măng cụt cho em không?
Đực bối rối không trả lời. Nhưng Sách đã tiếp:
- Em thèm ăn măng quá đi. Còn nhớ hồi xưa vào cấp nầy, xe đò ở tỉnh chạy qua đây đổ xuống chợ bao nhiêu là măng cụt...
- Cái đó dễ ợt mà. Cứ ráng khỏi rồi mai mốt mình kiếm, thiếu gì ...
- Anh ráng kiếm cho em nhé. Ăn măng làm em nhớ tới hồi còn cõng thằng Đắc, con ông Năm Nghĩa tới trường. Nó hay mua măng của bà cụ Bẩy vẫn ngồi ở gốc cây xoài, anh nhớ không?
Đực gật đầu:
- Nhớ chớ, sao không.
- Rồi có bữa thằng Hoanh trêu nó, nó ném vỏ quả măng, ai ngờ trúng vào thầy giáo. Anh nhớ không?
- Ờ, nhớ!
- Ui chao, nó làm em hết hồn, tưởng ông thầy bắt phạt nó rồi ấy chớ. Mà điều lại không việc gì. Anh có biết tại làm sao không?
- Quên rồi.
- Tại ông thầy bữa đó vui vẻ hơn mọi lần. Anh không nhớ là mấy bữa sau ổng nghỉ dậy để cưới vợ sao?
- Ờ, nhớ. Ổng lấy cô con gái cụ cựu Hương Quản.
- Không phải đâu. Đó là ông thầy dạy lớp Nhì. Còn ông dạy lớp Tư kìa.
- À, phải rồi, ông thầy Hiền.
- Ờ, đúng. Ông thầy Hiền.
- Ổng chết hồi năm ngoái rồi còn gì.
- Tội nghiệp ổng cũng hiền quá chớ. Học cả năm, thằng Dụng không bị ổng quất lấy một roi.
Nói rồi Sách lại nhăn mặt. Nó đổi thế nằm bằng cách nhích người qua một bên rồi lại nói tiếp:
- Thằng Dụng... Ui, nó cù lần quá, anh Đực.
- Ờ...
- Bữa nào rảnh, anh cho em qua thăm mộ nó một chút nhớ.
- Ráng khỏi đi cái đã.
- Em thấy đau quá...
- Thôi đừng nói nhiều, mà cũng bớt cử động đi. Nghỉ một lát rồi về trạm có người lo.
Sách ngoan ngoãn nằm yên lặng. Vành mi của nó khép lại. Cặp môi héo hắt, vẻ mặt nhợt nhạt hơn. Một lát, nó lại đòi uống nước nữa. Đực lại vốc nước nhễu vào miệng nó. Lần này giọng của nó thều thào đi:
- Anh Đực...
- Cái gì?
- Anh còn đó chớ?
- Còn chớ sao không!
- Đừng bỏ em nhé .. Nằm một mình ở đây em sợ.
- Đừng sợ mà. Có gì đâu.
- Sao em lạnh quá.



                                        (còn tiếp)

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 17 )

      
                            (tiếp theo)

Tiếng cười của Thư làm chị Lầu đang ngủ bỗng choàng tỉnh dậy. Chị mở mắt nhìn Thư ngơ ngác. Lầu vội vàng chạy lại nắm lấy tay vợ hỏi han rối rít:
- Mệt không em? Đau không em? Ui, em la hét quá trời làm anh vã mồ hôi hột. Có cô Thư lại thăm em đây này.
Chị Lầu cố mỉm một nụ cười trên khuôn mặt mệt mỏi. Thư nói:
- Chị thấy khoẻ trong mình không?
Chị Lầu gật đầu:
- Cám ơn cô. Dễ chịu lắm.
- Thôi, mẹ tròn con vuông vậy là mừng rồi. Đẻ con so như chị là lẹ lắm đó.
Lầu chen vào:
- Ui, nếu mà cơn chuyển bụng kéo dài thêm buổi nữa thì chắc tôi chết quá.
Chị Lầu mỉm cười:
- Thì ai bắt anh vô làm chi. Em đã bảo cứ ở đồn nằm khoèo, tới chừng sanh xong rồi, em nhờ người nhắn ra, anh không chịu.
- Nói nghe ngon dữ. Ở sát ngay đây còn nóng ruột muốn điên lên nữa là vô đồn thì còn điên tới đâu.
Thư hỏi:
- Vậy anh chị đã đặt cho cháu tên gì chưa?
Lầu đáp:
- Có rồi đó cô. Bà ngoại đặt cho cháu là thằng Hòa.
- Hòa là hòa bình há. Chẳng biết trời đất này bao giờ mới có hòa bình đây.
- Thì cứ ước ao vậy. Chứ hạng nhỏ nhít như mình, biết đâu mà nói.
- Anh tin tôi đi. Muốn gì thì gì, vùng này cũng phải một phen chết chóc thảm thương.
- Cô biết những gì mà dám quả quyết như vậy?
Thư mỉm cười:
- Thì như anh nói đó. Mình chả ở trên địa đầu của con đường tiếp tế, chuyển vận là gì.
- Nếu chỉ có vậy thì còn nói làm chi. Chắc bọn thằng Đực, thằng Há thì thọt về trong đó cho cô biết nhiều tin tức lắm phải không?
- Ui, mấy thứ đồ bỏ ấy biết cái gì mà nói. Phải những cấp ở trên tụi nó xa lắc kìa.
Chị Lầu chen vào:
- Thôi, chả biết cấp nào với cấp nào. Cứ tới chừng nào cô Thư tính lên tỉnh thì báo cho tụi tôi biết mà đi theo với nhé.

Thư cười rúc rích:
- Em ấy à? Em thì lúc nào cũng tính lên trển hết. Ở đây lủi thủi, rầu lắm chị ơi.
- Thế còn bà cụ? Cô cũng tính dẫn cụ đi luôn chớ?
- Không đâu. Các ông già, bà già ở đây kỳ lắm. Chỉ muốn được chết ở quê nhà thôi.
Một lát sau, Thư đứng dậy từ giã ra về. Lầu tiễn nàng ra tận cửa ngoài rồi quay vào nói với vợ:
- Cô ta chối thì chối vậy chớ, thái độ đó anh ngờ.
- Ngờ cái chi?
- Chắc chắn nó biết nhiều chuyện âm thầm của bọn thằng Đực, thằng Há. Mấy bữa rầy, ông trung úy về Chi khu họp luôn, anh càng thấy lo. Có lẽ phải tính tới chuyện dời em với con về Quận thôi.
- Nhưng còn má? Má không chịu đi đâu.
- Bả không chịu đi thì đành, chớ lỡ xẩy ra chuyện gì, mình phải chịu chung cả đám sao?
Chị Lầu thở dài:
- Để khuyên giải má lần lần coi sao. Vả cũng phải chờ ít tuần cho em khỏe hẳn đã chớ. Mới sanh yếu ớt thế này, làm sao đi?

CHƯƠNG 8

Những câu nói nửa đùa nửa thật của Thư khiến Lầu thắc mắc hoài không yên. Gã liền đem trình bầy với chuẩn úy Dũng rồi kết luận bằng một giọng rụt rè:
- Em sợ trong hàng ngũ của mình cũng có kẻ không tin được. Xin “thiếu” úy lưu ý thử coi.
Dũng vỗ vai Lầu an ủi:
- Điều đó thì chắc rồi. Làm sao mình có thể tạo được thành một khối thuần nhất khi mà có muôn ngàn bộ mặt tham dự vào cuộc chiến tranh này. Có những người tham dự bằng lý tưởng chống Cộng, nhưng cũng có kẻ dấn thân vào để thụ hưởng, để làm giầu trên xương máu của kẻ khác. Lại cũng có kẻ bị xô đẩy mà vào, bó buộc mà vào, họ không tìm thấy lý do chính đáng nào làm động cơ thúc đẩy cho nên họ tham dự cuộc chiến này với vẻ thờ ơ, ngoại cuộc, cứ như thể mọi biến chuyển trên đất nước này chẳng liên quan gì tới họ hết. Từ đó mới sinh ra những hiện tượng người này làm thì kẻ khác xóa. Mình muốn đất nước này tốt đẹp hơn, ổn định hơn, nhưng lại vấp phải những khối đá cản đường. Rút cục, khi đã bị lôi cuốn vào guồng máy thì hãy cứ nên biết ôm cây súng này mà bắn khi địch chĩa khí giới vào mình. Bởi không bắn thì cũng chết. Phản ứng tự vệ của một kẻ bắt buộc bị dồn đến chân tường phải tự vệ.
Lầu ngẫm nghĩ rồi đáp:
- Quả là có những kẻ nhìn vào cuộc chiến tranh này với cặp mắt của kẻ thờ ơ ngoại cuộc. Như cô Thư là một trường hợp. Em thấy không bao giờ cô ta bận tâm tại sao chồng mình thì ở hàng ngũ bên này và em chồng lại ở hàng ngũ bên kia.
- Một là vì nó còn con nít quá. Hai là vì nó dửng dưng, chai lì. Bởi vì, thế nào là bên này, thế nào là bên kia, khi mà chồng hay em vẫn chỉ là những người thân thích, ruột thịt. Cuộc chiến tranh này đáng ghét là ở chỗ ấy. Nó không có giới tuyến, nó không xác định rõ rệt giữa thù với bạn. Thế nào là thù? Thế nào là bạn? Lão Đối có phải là một kẻ thù không, dù lão ta đang nằm tù với lý do đi tiếp tế cho địch? Tên Hoanh bỏ nhà, đào ngũ đi theo biệt kích Mỹ, có phải là bạn đích thực không? Ôi, cái cuộc chiến tranh này....
- Nhưng mà rơi vào cái cảnh “kẹt” như thế, nó vẫn nhơn nhơn được cũng là lạ chớ!
- Vậy tôi mới nói hoặc là nó còn con nít, hoặc là nó chai lì, vượt lên trên được những éo le của hoàn cảnh. Để Chủ Nhật này rỗi rãi, tôi với cậu thử mò lên chợ chơi rồi coi sao. Nghe tụi binh sĩ nó xì xào về cô ta, tôi cũng muốn ngó tận mặt. Nhưng xin báo trước là tôi không có ẩn ý gì đâu đó nghe.
- Mình ngã một con rồi. Thằng Bình đó. Bữa nào có người lên tỉnh, tía nhắn cho ông già, bà già nó hay.
Lời nói của thằng Đực có giá trị như một bản khai tử gửi gấm vào trí nhớ bền bỉ của lão Đối. Từ ngày nổ súng, nghiễm nhiên lão biến thành một thứ sổ hộ tịch ghi chép số người ngã xuống, cả bên này lẫn bên kia. Thằng Xương, thằng Hiệu, thằng Viện, thằng Nam, thằng Tề, thằng Bình. Và rồi còn ai nữa trong những ngày khói lửa mỗi lúc một kinh hoàng sắp tới?
·  Chuyến đi tuy ước hẹn tầm phào như vậy nhưng lại được thực hiện một cách dễ dàng. Nhân thể, Dũng muốn ghé thăm chị Lầu mới sinh nở, vì chị là người may giúp Dũng nhiều món đồ hoặc sửa lại bộ treillis, cắt một vài bộ đồ ngủ, hoặc biến cái poncho thành chiếc áo mưa cắt theo kiểu do chính Dũng lựa chọn.
Ngày Chủ Nhật trời oi ả ngay từ sáng sớm. Khí hậu của những ngày nực mưa có khác, bầu không khí ngột ngạt và làm bứt rứt mọi người đến tận chân tóc. Trời êm ả không một ngọn gió. Cánh đồng trước mặt như trải phẳng ra dưới lớp ánh sáng nóng rực và chói lòa. Những giải mây trắng trên từng cao hầu như đứng im bất động. Lúc đứng chờ xe, Dũng bảo Lầu:
- Đồng quê yên tĩnh thế này mà không ngờ đang có chiến tranh tàn khốc, Lầu nhỉ.
- Vâng, nó rình mò mình quá lâu nên ai cũng sinh ra chán chường, mệt mỏi. Nhiều lúc em chỉ muốn được làm tên thợ cầy mà cũng không xong.

- Điều đó không phải chỉ là ước muốn của một mình cậu.Tôi cũng mong ước có ngày được trả lại bộ quần áo đồng phục này để trở về với đời sống học hành. Ngày xưa, hồi chưa nhập ngũ, tôi ước ao, thích thú một đời sống bay nhẩy, lang thang đây đó. Nhưng vào quân đội rồi mới thấy những ngày tự do ở đời sống dân sự là quí giá vô ngần. Hơn nữa, kiếp sống hào hùng, lang bạt đây đó chỉ là một vẻ đẹp có trong tiểu thuyết. Lao vào thực tế rồi mới thấy bọn văn sĩ chỉ biết vẽ vời.
- Tại sao “thiếu” úy không lấy vợ?
- Ôi giào. Vợ với con gì vào thời buổi này. Những ai đã chót đèo bòng vào rồi thì không nói làm gì, chứ còn độc thân thì không nên chút nào. Mạng sống của mình biết lúc nào còn, lúc nào mất. Tôi muốn được chết thanh thản hơn là khi nhắm mắt còn để bao nhiêu nỗi đớn đau cho người ở lại.
- Nhưng rồi nếu cuộc chiến này kéo dài mười lăm, hai mươi năm, “thiếu” úy cũng vẫn ở vậy sao?
- Chắc như đinh đóng cột là như thế. Chẳng phải là mình giỏi giang, cứng dắn gì. Nhưng trách nhiệm gia đình! Tôi sợ trách nhiệm gia đình vô cùng!
Bóng dáng một chiếc xe Lam hiện ra từ chỗ khúc quanh của đường nhựa. Lầu giơ tay lên, ra hiệu nhiều lần. Tốc độ của chiếc xe giảm dần rồi ngừng lại bên ven đường. Dũng đưa mắt nhìn vào trong xe để đánh giá mức độ “quốc gia” của người tài xế. Đó là một ông già trạc gần sáu mươi. Thân hình gầy gò, lọt thỏm trong chiếc áo ka ki rộng thùng thình. Đầu ông ta úp tùm hụp chiếc mũ dạ che gần kín khuôn mặt nhăn nhúm và sạm đen vì nắng. Ở đằng sau, trên hai băng trống chỉ vỏn vẹn có ba người: một ông già, một thiếu phụ và một đứa trẻ con. Ông tài nói:
- Mời “thiếu” úy ra băng sau, còn rộng chán.
Dũng đưa mắt ra liệu cho Lầu. Lầu lầm lũi trèo lên băng ghế sau, trong khi ấy chàng ngồi ghé vào bên cạnh chỗ của tài xế. Ông ta la lên:
- Xin “thiếu” úy cảm phiền. Ngồi thế này dễ lộ mục tiêu, nguy hiểm lắm.
Dũng nhún vai:
- Không hề gì đâu. Cụ cứ yên tâm mà lái. Tôi cần phải ngồi ở đây để hễ có lộn xộn cái gì, xoay xỏa cho nó dễ.
Mặt ông ta thoáng một tia bất mãn. Kinh nghiệm cho thấy mấy thằng du kích hay lủi trong những lùm cây um tùm ở hai bên vệ đường. Nhiều khi nhiệm vụ của chúng chỉ là quan sát những đoàn công voa di chuyển trên quốc lộ mà không có chỉ thị nổ súng. Nhưng ngứa mắt thì nó lia một băng chơi. Nhất là vào những lúc hết phiên gác phải lộn trở vào trong đồng. Vô phúc chiếc xe nào đi ngang qua đúng vào lúc ấy, lại thấp thoáng trên xe có bộ đồ xanh của lính tráng thì thế nào cũng có những loạt súng bắn theo. Có thể những viên đạn vào trúng mục tiêu. Nhưng cũng có thể một vài người dân thường không may bị lãnh đủ. Cái chết đến thật tình cờ. Cũng tình cờ như kẻ đã nổ súng, vì có thể trước đó mấy phút, hắn ta không có ý định bấm cò!


                            (còn tiếp)

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 16 )



                         (tiếp theo)




Trái với sự dự đoán của Lầu, Thư lại tiếp nhận một cách rất sốt sắng và nồng nhiệt. Nàng reo lên như chính nàng đang làm chủ cái nguồn vui tuyệt diệu đó. Rồi nàng rối rít loan báo với mọi người chung quanh:
- Nè! Chị Lầu đẻ rồi. Đẻ con trai nữa mới mừng chớ.
Thái độ vồn vã ấy khiến Lầu thấy thiện cảm với Thư hơn. Gã nói:
- Cô sẽ vào thăm nó chớ?
- Vô chớ sao không. Mà điều phải đi mua cái gì đã. Nó đã có quần áo, tã lót gì chưa?
- Không thiếu gì hết. Cô vô thăm là quí rồi.
- Được mà. Để ghé chợ rồi tôi sẽ vô.
Lầu không kịp cám ơn gì nữa hết. Gã tất tả chạy về phía đồn Phi Mã. Trong khi ấy Thư nhìn theo mỉm cười, thân hình đưa đẩy. Từ hôm Hoanh đi rồi, nàng cảm thấy đời sống nhẹ nhõm và tự do như gió trời. Việc đầu tiên là Thư thay toàn bộ các đồ trang điểm phấn sáp của mình. Dầu sao, xài một thỏi son mới cũng vẫn hơn là thỏi son cũ đã mòn toẹt, nhoét nhòe. Mầu má hồng tại sao lại không đậm hơn mầu trước một chút nhỉ. Hãy trả cho Hoanh cái gì của gã. Và ta như cánh chim bay bổng trên vòm trời, ở đó sẽ được nhìn thấy biết bao nhiêu cảnh vừa mới, vừa lạ. Chỉ tiếc một điều, thanh niên ở đây bây giờ hiếm hoi quá. Những chàng trai trẻ đã ra đi hết, các khuôn mặt còn lại thì chỉ là những kẻ cằn cỗi, già nua. Đối tượng duy nhất mà Thư thấy ước ao bây giờ chỉ còn có một Chuẩn úy Dũng trong đồn Phi Mã. Nhưng Dũng lại thuộc loại người quá nhút nhát nghi kỵ. Hầu như trong những ngày sống ở đây, nhìn ai Dũng cũng có cảm giác như họ đã là V.C rồi. Bước ra khỏi đồn, bao giờ Dũmg cũng kéo mấy anh lính đi kèm theo. Trong quán nước, Dũng chọn chỗ ngồi an toàn nhất ở góc trong cùng. Trên xe lam, Dũng chỉ ngồi bên cạnh tài xế, sau khi đã buông lời đe dọa:
- Từ đây đến ngã ba cây gòn, cấm bác ngừng xe. Ngừng lại là tôi bắn bác trước đó!
Rút cục cặp mắt lạnh lùng, đôi môi quyến rũ, thân hình nở nang cân đối ấy chỉ còn linh động được trong trí tưởng tượng của Thư vào những hôm nàng trằn trọc mất ngủ. Nhiều hôm ngủ không được, Thư cởi quần áo ra dội ùm ùm ngoài bể nước. Chỉ những giây phút ấy Thư mới thấy Hoanh có lý nhiều phần khi gã từ bỏ cuộc sống chật hẹp ở đây để tìm đến một chân trời rộng rãi hơn. Nàng đem ý nghĩ dọn nhà lên tỉnh bàn với mẹ chồng. Bà chỉ cười chua chát:
- Lên tỉnh rồi làm gì ở trển?
- Mình buôn bán, làm ăn chớ. Chết dí ở cái xó này, rồi nghèo mạt rệp suốt đời, má ơi.
- Giầu nghèo gì trời đất nầy. Thôi, sống được ở nhà ngày nào hay ngày nấy.

- Nói như má thì vô cùng. Cái đó tùy má. Nhưng tôi đi thì má không cản chớ?
Bà cụ ngước lên nhìn Thư, một lát mới trả lời được:
- Việc của mầy thì mầy tính. Làm sao tao xía được vô.
Thư mỉm cười, hài lòng:
- À, đó là nói trước với má vậy thôi. Chớ tôi cũng chưa tính tới chuyện đó đâu. Để thằng Há về, tôi hỏi tình hình coi sao đã.
- Hừ, tính gì thì tính, chớ nó không dám vác mặt về đây nữa đâu.
- Sao má biết?
- Thì từ hồi đó tới giờ, nó sợ thằng Hoanh, đâu có dám bén mảng về.
- Bây giờ thì khác. Thế nào nó chẳng biết ảnh vô biệt kích rồi. Mà dầu sao thì nó cũng phải về thăm má chớ, cách mạng gì đâu mà lại bỏ cả mẹ già coi sao được.
Quả như lời Thư tiên đoán, ít lâu sau ngày Hoanh đi khỏi, một đêm thằng Há lại mò về. Lần này nó đứng nín thinh ngoài cửa sổ ghé mắt nhìn qua song cửa. Đêm về khuya, ngọn đèn leo lét không đủ soi sáng căn nhà rộng rãi âm u. Ở buồng trong, bà cụ ngủ mê mệt, tiếng ngáy đưa ra từng chập. Phía giường ngoài, Thư còn thao thức với với tờ tuần báo cũ nát mà nàng đã xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần. Một chập sau, Há giơ tay gõ cửa nhè nhẹ. Nàng giật mình nhìn ra, lo lắng hỏi:
- Ai đó?
Há ngập ngừng:
- Tôi đây, chị Thư.
Thư đứng dậy, khêu to ngọn đèn rồi bước ra ngưỡng cửa. Cánh then gỗ được nhấc lên từ từ, rồi thân hình của thằng Há hiện ra chập chờn dưới ánh sáng leo lét. Thư mỉm cười:
- Chú Há đấy hả. Đi đâu khuya dữ vậy?
- Tôi về thăm nhà, có cho tôi vô không?
Thư lùi lại nhường chỗ cho nó:
- Vô chớ sao không. Nhà của chú mà.
- Đừng xạo! Cộng Sản như tôi, đồ bỏ mà.
- Ai biểu chú thế?
- Anh Hoanh chớ ai.
- Ui, ảnh đi rồi. Nhắc lại làm chi.
Há im lặng, ngắm Thư sỗ sàng từ đầu đến chân. Cái nhìn đó làm Thư bối rối, nàng vội nói:
- Kìa! Chú vô đi chứ. Bộ đứng đây hoài sao.
- Bả đâu?
- Má ngủ rồi.
- Tôi đói, chị còn gì ăn không?
- Còn cơm nguội với canh chua.

- Cha! Đem hâm nóng lên thì phải biết.
- Thì hâm nóng chớ sao. Dễ ợt mà.
- Vậy số dách chị rồi. Để tôi phụ với chị.
Vừa nói Há vừa nhấc cây đèn lên tay và đi xuống sân đất. Thư lặng lẽ theo sau. Trong chốc lát, ngọn lửa cháy hồng lên, tỏa một vùng ánh sáng chập chờn in trên vách bếp. Há ngồi dựa lưng vào chạn bát, hai chân duỗi dài. Nó vặn mình kêu răng rắc. Trong khi ấy Thư ngồi im lặng bên bếp lửa. Hơi nóng làm hai má của nàng mỗi lúc một đỏ hồng thêm. Mái tóc buông hờ hững xuống bờ vai. Một vài sợi dính nhếch nháp trên vầng trán thấp, và phẳng. Thư bận một chiếc áo lụa nâu, cắt kiểu, cánh tay ngắn tới nách, để lộ nước da mỡ màng của thiếu phụ đang ở độ nẩy nở, chín mùi.
Câu chuyện giữa hai người chỉ theo đà gióng một, được mấy tiếng rồi chẳng ai nói gì thêm. Chung quanh chỉ còn tiếng củi nổ tí tách, tiếng nước reo trong nồi canh cá và tiếng một vài con chuột chạy đâu đó trên xà bếp. Rồi bỗng nhiên Thư thấy nóng ở phía đằng sau gáy. Không quay lại nàng cũng biết thằng Há đã lén tới từ lúc nào. Hơi thở của nó mỗi lúc một giồn giập như át tiếng nước đang bắt đầu sôi. Rồi bàn tay của nó đặt lên vai Thư vuốt nhè nhẹ. Thư lắng nghe để phân biệt tiếng động ở nhà trên. Bốn bề thật êm ả như một đêm nào Thư đã cùng với Hoanh chia sẻ sự sung sướng, hồi hộp, lúc hai người gần gũi nhau lần đầu.
Bàn tay của thằng Há vẫn như những con rắn êm ái luồn quanh cổ nàng. Thư rùng mình một cái nhẹ rồi ném cây cời lửa vào giữa bếp. Thư thấy cánh tay của Há đỡ lấy giải tóc của mình như một cái gối êm. Nồi canh đã sôi lên, khiến chiếc vung bật mở và những dòng nước tuôn ra ở mép nồi rồi chẩy xuống nghe xèo xèo. Ánh lửa đảo lên một vài vòng rồi vụt thu bé lại. Căn bếp chìm trong bóng tối mênh mông. Thư thấy như mình đang bay bổng trong sự mênh mông tuyệt vời đó. Với Dũng. Anh ơi! Em khao khát được gần anh biết bao.


                                                              * *
                                                                *


Lúc Thư đến nhà hộ sinh thì Lầu cũng đã trở lại đấy từ bao giờ. Gã đang ngồi chiêm ngưỡng tác phẩm bằng xương, bằng thịt do chính gã tạo nên. Thằng bé đỏ hỏn, nét mặt nhăn nhúm, mái tóc óng mượt như những sợi nhung. Chị Lầu nằm thiêm thiếp ngủ trên tấm phản gỗ có trải nệm trắng đã ngả mầu ố vàng. Làn tóc rối bù. Nước da nhợt nhạt. Bầu không khí trong phòng phảng phất mùi thuốc nhà thương.
Thư mang đến cho chị Lầu một chục trứng gà, cho thằng bé năm hộp sữa và một cục xà bông thơm. Lầu cảm động, bối rối:

- Cô vô thăm cháu đủ rồi, mua chi nhiều cho tốn kém.
Thư vui vẻ:
- Ui! Cho cháu tôi chút đỉnh mà. Coi nào, thằng bé ngộ quá, giống bố như đúc phải không?
Lầu bẽn lẽn:
- Dạ, cũng chưa thấy gì mấy. Trẻ sơ sinh thì đứa nào cũng như đứa nấy.
- Tầm bậy nào. Cái mồm, cái mũi này không phải giống bố thì cứ chặt đầu tôi đi. Chà, có con khoái quá há. Tôi thèm muốn chết mà không có đấy.
Lầu định nói góp, nhưng sau nghĩ tới Hoanh đã đi rồi, gã lại im lặng. Gã nhìn Thư chú ý hơn. Bây giờ gã mới nhận ra cô nàng diêm dúa hơn trước rất nhiều. Mái tóc chải kỹ, mướt vì dầu thơm. Đôi lông mày tỉa, vẽ gọn gàng. Làn môi ướt mọng, thân hình nẩy nở, thơm tho trong bộ quần áo ủi thẳng nếp. Trông Thư quyến rũ và gợi cảm gấp bội hồi nàng còn con gái. Thấy gã đàn ông chăm chú nhìn mình kỹ quá, Thư có vẻ ngượng nghịu. Nàng nói lảng đi:
- Vợ đẻ thế này, anh cũng được phép nghỉ chớ?
- Dạ có. Bốn ngày.
- Ui! Bốn ngày lận. Coi bộ ông Chuẩn úy Dũng dễ chịu quá há.
- Đó là luật định mà. Ai cũng vậy hết, chả cứ.
- Nói vậy chớ, luật gì thì luật, cũng phải ăn thua ông xếp của mình. Còn viện cớ nhu cầu công tác thì thiếu gì.
- Cái đó thì đã hẳn. Mà điều ở đây thì dễ. Ông Chuẩn úy Dũng thương tôi lắm.
- Vậy hả. Thế mà tôi cứ nghĩ ổng khó lắm. Người gì mà lúc nào cũng lạnh như cục băng.
- Không có đâu. Đối với anh em binh sĩ , ổng rất tốt, ít có tác phong quan liêu như ông Trung úy trưởng đồn.
- A! Cái ông Trung úy ấy hả. Ổng già rồi nói làm gì. Tôi gặp ổng mấy lần, tôi cũng không có cảm tình.
- Mà điều ổng giỏi, nhiều kinh nghiệm tác chiến, đỡ lắm.
- Chắc giỏi thiệt hôn? Ngó bộ chớ, mấy bọn ở mé trỏng cũng tinh ma lắm đó nhé.
- Ui! Mấy thằng du kích xã chuột nhắt ăn thua gì. Trừ phi chúng nó đem chủ lực Miền về đây thì mới đáng ngại.
- Anh ngó thử coi, họ có dám về không?
- Cái đó thì không chắc, nhưng có thể lắm chứ. Mặt trận trên Phú Sơn mỗi ngày một nặng, cô không thấy sao?
- Ở trên đó nặng thì ở đây càng khoẻ chớ sao.
- Chắc gì. Quốc lộ số 1 này là cổ họng giao thông, vận tải, tiếp vận mà. Đồn Phi Mã trông nhỏ nhoi vậy chớ, tụi nó ham lắm đấy.
- Hèn chi mà tôi thấy hồi này rào trong, rào ngoài, ngó bộ phòng thủ dữ. Còn ông chuẩn úy Dũng thì thôi, khỏi nói, ổng làm như mấy thằng du kích nó ăn thịt đến nơi rồi.

Lầu bật cười:
- Có cẩn thận vẫn hơn chớ. Thời buổi này đâu có so được với như ngày xưa.
- Chắc ổng vợ con đùm đề rồi nên mới lo lắng thái quá vậy, phải không?
- Chưa đâu. Mà điều đã lo xa thì chả cứ phải có gia đình rồi mới lo xa. Như tôi đây, tôi vẫn vô trong ấp khơi khơi, đâu có ngán.
Thư buông một tiếng thở dài:
- Nói vậy chớ, cứ nên lo xa như ông chuẩn úy là hơn, anh à. Bọn họ không vừa đâu. Bộ các anh tưởng mình làm những gì, những gì, họ không biết đấy sao?
Lầu nhìn Thư nghi ngờ:
- Họ biết hay không làm sao cô rõ được? Mà họ biết những gì?
- Bộ anh tưởng tôi hoạt động nội tuyến cho họ phải không? Ui, vài ba khẩu súng các anh vác đi ngờ ngờ, đến thằng con nít cũng trông thấy chớ đừng nói tới phải có nội tuyến nội tung gì, mất công.





                                            (còn tiếp)

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 15 )


                               (tiếp theo)
                            
                             CHƯƠNG 7

         

Ít hôm sau, lão Đối thu vén được hơn hai ngàn bằng tất cả những món tiền dành dụm được, rồi lão mầy mò lên phố chợ. Lão vô tiệm thuốc tây độc nhất trong vùng, xòe cái giấy của Vấn lên mặt quầy và nhìn ông chủ tiệm với tất cả mọi niềm hy vọng. Người chủ tiệm liếc qua một lần rồi nhún vai:
- Toàn thuốc trụ sinh hiếm hoi, ở đây làm sao mà có.
Lão Đối năn nỉ:
- Xin ông cố giúp giùm cho. Tôi cấp cứu người bệnh gấp rút lắm.
Rồi như sợ lỡ lời, lão lại tiếp:
- Đứa con dâu nhà tôi đã ốm lại còn có bầu. Nguy hiểm lắm.
- Biết vậy rồi nhưng đây chỉ là đại lý, làm sao có đủ mặt hàng. Tôi chỉ bán cho cụ được có hai món thôi. Còn bao nhiêu, cụ phải lên tỉnh mới có được.
Lão Đối lè lưỡi:
- Ui choa! Lên tỉnh thì làm sao tôi đi. Nhà hiếm người.
- Vậy thì biết làm sao.
- Tôi đặt tiền trước, nhờ ông mua giúp giùm.
- Không được đâu cụ ơi. Tiệm nầy của tôi sắp sửa phải dẹp rồi. Cả tháng nay tôi đâu có buôn hàng gì thêm đâu. Tình thế này, cụ không thấy sao?
- Mà trên tỉnh chắc là có chớ?
- Chắc vậy. Ở trên đó có nhiều tiệm. Cà rà đây đó may ra thì đủ.
Lão Đối buồn bã lượm mảnh giấy cho vào túi rồi trở ra. Ngày hôm sau lão đổi mấy lần xe để lò dò lên tỉnh. Mớ thuốc lão mua được đủ, chất vừa khít một cái giỏ xách tay. Lúc xuống xe lam ở đầu cầu chợ Lùng, lão đã bị một nhóm lính đón đường. Một người cười lạt lẽo:
- Đi tiếp tế thuốc trụ sinh cho Việt Cộng, hả?
Lão Đối giật nẩy mình, sững người nhìn mấy kẻ trước mặt. Lão nhận ra ba người quen thuộc là thằng Trọng, thằng Hưng và anh Lầu. Lão hơi yên dạ, mỉm cười gượng gạo:
- Chèn ơi! Buộc nhau chi những tội tầy trời vậy, mấy em.
Một người lên tiếng:
- Thì cả chợ nầy đồn cụ đi lùng thuốc trụ sinh mà. Phải hôn?
- Nói xàm hết cỡ chưa! Tôi mua thuốc chữa bệnh cho tôi mà.
- Đâu, cụ bệnh gì, đau ở đâu?
- Ối, già tuổi rồi, nhức đầu, xổ mũi, đau xương đau cốt tùm lum.
- Vậy cho coi cái giỏ đi. Có phải thuốc bổ thận hoàn Thảo Nam Sơn thiệt không nào.
Một người sán lại, giằng cái giỏ trên tay lão Đối. Lão rụt lại phản kháng:
- Bộ cứ đau xương là phải uống Thảo Nam Sơn sao? Thời buổi bây giờ thiếu gì thuốc hay hơn.
- Thì cứ cho khám đi. Không phải thuốc trụ sinh tiếp tế cho V.C. thì thôi chớ gì.
- Thuốc trụ sinh thiệt đó. Mà điều chẳng dùng để tiếp tế cho Việt cộng Việt cung gì hết.
Lầu từ nẫy vẫn im lặng, bây giờ mới xen vào:
- Thì bác cứ để cho anh em làm phận sự đi. Nếu không có chuyện thì thôi chớ có ai làm gì bác đâu.
Cái giỏ được mở ra, những hộp thuốc được rỡ từng gói. Có cả Pénicilline lẫn Tyfomycine. Những tiếng in, in, phát ra từ miệng đọc của gã đàn ông có phận sự lục soát đã khiến cho mọi người cùng la lên:
- Chèn ơi! Rặt một loạt trụ sinh ác ôn, không tiếp tế cho V.C. thì mua làm cái gì đây?
- Mua để xài chớ mua làm cái gì! Các ông ngó thử coi. Tí xíu bằng này thì tiếp tế cho ai?
- Kiến tha lâu đầy tổ mà cụ. Thôi, cứ mời cụ về trụ sở đã rồi phân giải sau.
Toán người áp giải lão Đối đi ngược về phố chợ. Vừa đi lão vừa phản đối om sòm. Râu tóc lão dựng ngược lên, mặt lão đỏ rần rần. Lầu an ủi:
- Chắc chẳng ai giữ bác đâu. Nội ở đây, bác thì ai mà không biết.
- Chẳng giữ tôi thì điệu tôi về trụ sở làm chi?
- Thì cũng phải trình lên Ủy ban Hành chánh Xã chớ. Tại bác làm gì lộ liễu quá, người ta đồn bác đi lùng thuốc trụ sinh dữ thần, ai mà không thắc mắc. Phải bác mua cho thằng Đực không?
- Nó là con tôi, tôi có quyền mua cho nó chớ.
- Mà điều nó là du kích.
- Là gì đi nữa thì bố cũng có quyền thương con. Bộ nó ốm đau rồi tôi mặc nó chết bỏ xác sao?
- Thì thế mới hy vọng Ủy ban người ta thông cảm với mình. Bác cứ yên chí đi. Cháu tin tưởng vậy mà.
- Trời ơi! Hạng người già cả như tôi mà tống tôi vô tù thì vô lý hết chỗ nói.
- Nào ai đã tống bác vô tù đâu?
Lão Đối giận dữ:
- Áp giải thế này không là tù thì là cái vương tướng chi đây?
Một người khác chen vào:
- Thôi bác thông cảm cho anh em giùm một chút đi bác. Nếu coi bác là tù thì chúng tôi đã phải trói tay bác rồi.
Ở trụ sở Ủy ban Hành chánh, lão Đối được chỉ cho ngồi vào một chiếc ghế băng kê ở sát tường. Ông Chủ tịch đi vắng, nhưng có Ủy viên An ninh, người nầy có họ bà con xa bên đằng vợ của lão Đối. Hắn phải kêu lão Đối là dượng. Hắn tiếp nhận chiếc giỏ xách tay rồi bầy biện mười hai hộp thuốc lên mặt bàn. Hắn nói:
- Dượng dại lắm. Ai biểu dượng đi mua những đồ nguy hiểm này về làm chi.
- Có gì mà nguy hiểm. Trên tỉnh người ta bán tự do mà.
- Trên tỉnh là một đàng, mà ở đây là một đằng khác. Dượng không biết chớ, để sửa soạn cho những trận đánh lớn vào mùa mưa tới, Việt Cộng tung tiền đi vơ vét thuốc trụ sinh ở khắp các tiệm thuốc.
- Nó vơ kệ nó chớ, ăn nhằm gì tới tôi.
- Dạ, dượng nói vậy thì cháu cũng biết vậy. Biên bản cháu làm đây sẽ ghi đúng lời khai của dượng. Nhưng quyết định thì cháu không có quyền. Phải chờ Ủy Ban.
Lầu lại phải an ủi:
- Cháu chắc cũng không có gì đâu. Bác cứ yên tâm ngồi nghỉ một lát. Bác có đói để cháu mua bánh mì.
- Thôi. Bánh với trái cái gì. Tao đâu còn bụng dạ nào mà ăn được nữa kìa!
Nghiên cứu trong số thuốc tìm được ở cái giỏ xách tay của lão Đối, người ta nhận thấy có cả loại thuốc trừ bệnh phong đòn gánh. Rõ ràng là người mua có dụng ý đem dùng trong những trường họp ngăn ngừa vết thương nhiễm độc. Sự lo xa ấy của Vấn làm cho số phận của lão Đối không được êm xuôi dễ dàng như Lầu tưởng.
Tờ trình đã được ghi đầy đủ chi tiết tỉ mỉ. Nó được chuyển từ Xã lên Quận, từ Quận lên Tỉnh và ở Tỉnh người ta giữ lão Đối lại để điều tra thêm. Như vậy khó có thể biết được ngày nào lão được trở lại xóm làng thân yêu cũ, nơi lão đã thề nguyền là dù cuộc chiến có xảy ra như thế nào, thì lão cũng sẽ chết ở đấy. Để xác thịt của lão được trở về với mạch đất của quê hương, để trước khi nhắm mắt, lão được nhìn thấy một lần chót mái tranh này, bụi tre kia, và được thở hít bầu không khí quen thuộc mà lão đã sống ở đó từ hơn sáu mươi năm.
                                                
                                                           * *
                                                            *
Theo ý của Lầu, vai trò của lão Đối ở trong ấp Vĩnh Hựu này thật cần thiết. Chính lão đã là người ngăn cản nhiều ý định rồ dại của bọn thằng Há, thằng Đực, những kẻ mang trong lòng mọi ý nghĩ thù địch, lúc nào cũng sẵn sàng thanh toán bạn bè xưa cũ, những người đã chia xẻ với bọn chúng một dĩ vãng tươi mát, êm đềm. Và chính lão cũng đã có nhiều lần từng che chở cho bọn chúng thoát khỏi những cuộc ruồng xét bất tử của lính quốc gia ở đồn Phi Mã. Trong ý nghĩ đơn giản nhưng bền vững như dao chém đá, lão Đối quan niệm rằng ở buổi giao thời đau thương và khốn khổ này, tất cả chúng nó chỉ là nạn nhân. Những đứa này bị xô đẩy vào lò cừ với lý tưởng Giải phóng, những đứa khác chống cự lại với lý do Tự vệ, và Bảo vệ. Nhưng liệu thực chất của cuộc chiến lâu dài này có phải là như vậy không? Dù sống dưới một lý tưởng hay chủ nghĩa nào thì tối thiểu quyền sống của con người cũng phải được tôn trọng. Người ta đã nhân danh cái quyền sống ấy để hủy diệt. Và một khi sự hủy diệt này kéo dài quá lâu, quá tàn khốc, quá thảm thương, thì không một chiêu bài nào còn đầy đủ lý do đề tồn tại nữa.

Những ý nghĩ đó khiến Lầu rất băn khoăn. Phải chi con đường mà gã và các bạn đồng đội của gã đang đi sẽ sáng tỏ được như ban ngày. Còn gì đau khổ, dằn vặt hơn khi phải đem cả mạng sống của mình đặt vào một cuộc thách đố không định hướng. Trong những lần tiếp xúc tập thể với anh em binh sĩ trong đồn Phi Mã, chuẩn úy Dũng vẫn thường nhắc nhở đến lý tưởng Tự Do, xã hội Công Bằng, đời sống Bảo Đảm.
Những lời lẽ văn hoa ấy đẹp như tấm thủ bút của những tay danh sĩ đời xưa vẫn thường được người ta đóng khung nâng niu như đồ gia bảo. Người ta chiêm ngưỡng nó say mê, gìn giữ nó cẩn thận như gìn giữ một phần thân thể. Nhưng không phải lúc nào nó cũng trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống hằng ngày. Cũng như danh từ Tự Do, Công Bằng, Bảo Đảm không phải lúc nào cũng là những động cơ thúc đẩy con người ta hành động. Phải có điều gì cụ thể hơn các ý nghĩa sâu xa của những danh từ tốt đẹp, hoa mỹ đó. Nó phải làm cho người ta cảm được, thấy được, xúc động được, nhất là với đám dân quê hiền lành, chất phác, quanh năm chỉ biết vui thú với những ước mơ nhỏ bé, tầm thường của mình.
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  nàyNhưng được một điều may mắn là những tâm trạng ray rứt đó không phải lúc nào cũng trở thành vấn đề khiến cho người ta phải tự tra vấn, xét hỏi. Cuộc sống hằng ngày còn nhiều tình tiết tuy nhỏ nhặt hơn, nhưng lại khiến người ta bận tâm đến nhiều hơn. Cho nên hầu như nhu cầu tinh thần chỉ là một tỷ lệ rất nhỏ so với nhu cầu vật chất của đời sống hằng ngày. Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một trạng huống, mỗi người một mối lo âu về sinh kế, về tật bệnh, về muôn ngàn những đòi hỏi thực tế khác nữa, tất cả đã sẵn sàng che lấp đi trong ý nghĩ mọi người về cả một khoảng trống tinh thần đó.

Như mối quan tâm thiết yếu nhất của Lầu bây giờ chính là đứa con đầu lòng của gã sắp sửa ra đời. Hình ảnh của lão Đối đứng giữa hai người lính ở bên lề quốc lộ để chờ chuyến xe lam đưa về quận lỵ chỉ gây xúc động cho gã trong ít phút. Đến khi gã bước qua ngưỡng cửa của nhà hộ sinh thì những ý tưởng hoang mang, rời rã đã tan biến rất nhanh, nhường chỗ cho một mối lo âu mới, mạnh mẽ hơn đến độ có thể thiêu đốt lòng gã.

Trong suốt hai tiếng đồng hồ, gã bối rối đứng ngồi không yên bên chiếc bàn gỗ xộc xệch. Hơi nóng tỏa xuống từ mái tôn thấp khiến mồ hôi trên mình gã đổ ra đầm đìa. Chung quanh gã, những mẩu tàn thuốc vứt vương vãi khắp mọi chỗ. Miệng gã khô đắng lại với những miếng nước bọt như khô quánh, đặc sệt trong cổ họng. Mắt gã không rời cánh cửa gỗ loang lổ nước sơn cũ kỹ vẫn đóng im ỉm ngay từ lúc gã đặt chân tới. Bốn bề im lặng hoàn toàn như tôn trọng, chia xẻ với những tiếng rên la thét lên từng cơn của chị Lầu. Chị gọi tên gã. Chị đòi gặp má. Chị muốn lên tỉnh vô nhà thương lớn. Chị mong được chết. Thật là Lầu đã phải trả một cái giá đáng đời sau những ngày chứa chan hạnh phúc.
Bỗng nhiên chị Lầu la to hơn hết mọi lần. Tiếng gào của chị xé lên như bóp nát ruột gan của gã, rồi tiếp theo đó là tiếng trẻ oa oa khóc. Lầu ném ngay điếu thuốc qua ngưỡng cửa và nhẩy bổ lại trước cánh gỗ đập rầm rầm. Cánh cửa bật mở, một cô mụ hiện ra với vẻ mặt đầy mệt nhọc:
- Nhín chờ chút đi. Chưa rồi mà!
Lầu hỏi cuống quít:
- Con gái hay con trai?
- Con trai! Mừng chưa?
Lầu không còn nghe thấy gì nữa. Gã xách ngay cây súng chạy thốc ra đường. Gã muốn gặp bất cứ ai quen thuộc để báo tin mừng là vợ gã đẻ con trai. Người đầu tiên mà gã đụng phải là Thư. Mặc dầu chẳng ưa thích gì lắm thứ đàn bà ngựa vía này, Lầu cũng vẫn hối hả:
- Vợ tôi đẻ con trai rồi, cô Thư!


                                                        (còn tiếp)

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 14 )



                                    (tiếp theo)


Thấy Đực, mặt Vấn vụt tươi lên. Nàng nhoẻn một nụ cười rạng rỡ rồi xòe bàn tay ra đón gã. Đực dựng cây súng vào vách rồi ngồi xuống nệm cỏ. Gã nắm lấy tay nàng bóp chặt như muốn truyền sang nàng tất cả nỗi nhớ thương chồng chất từ bao nhiêu năm tháng. Vấn mỉm cười, cặp mắt của nàng long lanh như chất chứa vẻ cảm động. Nàng ngắm nghía Đực một lát rồi nói:
- Trông anh vẫn thế. Còn Vấn, anh có thấy khác gì không?
Đực bùi ngùi:
- Có vẻ xanh hơn. Mà sao đi mất biệt đâu, không nhắn giùm cho tôi một câu.
Vấn mỉm cười:
- Giận lắm hả?
Đực không đáp nhưng gã nắm chặt tay nàng hơn nữa. Gã muốn nói thật nhiều nhưng rồi lại không nói được gì cả. Vấn cũng im lặng để kéo dài giây phút cảm thông sâu xa đó. Mãi một lát sau nàng mới lên tiếng:
- Vấn gọi anh tới để báo cho anh một tin vui. Mà điều không biết có phải là vui với anh không đây?
Nói rồi nàng rút bàn tay ra khỏi tay Đực, nằm ngay ngắn lại và kéo tấm mền ra khỏi mình. Đực giật mình khi trông thấy cái bụng to của Vấn mà từ lúc vào gã không đề ý. Gã nhìn Vấn bối rối, rồi bỗng thốt lên:
- Vấn. Vấn...hả?
Vấn gật đầu nhẹ nhàng:
- Con anh đó. Rầu hay vui?
Đực cảm động đến nghẹn ngào:
- Sao lại rầu kia chớ. Trời ơi! Thực không ngờ...
- Không ngờ thiệt hả?
- Thiệt chớ. Ai mà ngờ cho được.
- Anh nhận nó không?
- Ôi cha! Sao lại không. Hỏi chi mà kỳ cục vậy. Con tôi mà!
Câu trả lời của Đực làm Vấn hài lòng. Nàng trở nên thân mật và gần gũi với gã hơn. Một tay của nàng níu lấy vai gã. Cánh tay kia quàng qua cổ gã một cách nồng nàn. Nàng nũng nịu:
- Vậy mà em cứ lo. Phải rồi. Con anh đó. Nếu là con trai nó sẽ giống anh như đúc.
Đực ngả lưng xuống nằm xuôi bên cạnh nàng. Bàn tay của gã đặt lên bụng nàng. Gã có cảm giác như đứa bé đang cựa quậy trong đó. Lòng gã dâng lên một niềm xao xuyến, rung động như gã đã vừa hoàn tất một việc tốt đẹp nhất trên đời. Giây lâu, gã nhìn nàng dò hỏi:

- Bây giờ tính sao nhỉ? Có về với tôi không ?
Vấn không trả lời ngay câu hỏi của gã mà lại giận dỗi một cách nũng nịu :
- Sao anh cứ xưng tôi hoài, dễ ghét quá. Từ nay em là vợ anh rồi
- Phải đấy. Anh sẽ giới thiệu em với tía.
- Bao giờ?
- Ngay ngày mai.
Vấn lắc đầu:
- Anh không thấy sao. Bụng em lớn thế này đi đâu nổi.
Đực ngẩn ra nhìn Vấn. Rồi gã lại cúi xuống ngó kỹ bụng nàng hơn. Một lát gã buột miệng:
- Ừ nhỉ.
- Em đã nhờ Yút rồi. Em sanh con ở đây.
- Đâu có được, ở đây đâu có thuốc men gì.
- Đó là điều khiến em nghĩ tới anh. Anh phải lo cho em đầy đủ đấy nhé.
- Tất nhiên rồi.
- Những thuốc nào cần mua em đã ghi ra cả ở đây rồi.
Vừa nói Vấn vừa trao cho Đực một mảnh giấy bằng bàn tay viết kín những chữ. Đực đón lấy rồi nói:
- Anh sẽ nhờ tía lên chợ Lùng. Ở đó không có thì lên tỉnh. Nhất định là phải đầy đủ mà.
Vấn ngập ngừng:
- Nhưng rồi tía sẽ nghĩ sao. Có giận mình không?
Đực khua tay:
- Ôi, ăn nhằm gì. Thấy anh có vợ con đàng hoàng, ổng còn mừng.
Vấn nhìn Đực một giây rồi nói tiếp:
- Còn một điều này nữa, em cũng phải nói hết cho anh biết. Anh thấy là mình đang hoạt động để hoàn thành sự nghiệp lớn lao của dân tộc chớ.
- Thấy.
- Cho nên mình phải đặt quyền lợi tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân.
- Rồi sao?
- Cho nên vấn đề gia đình đặt ra bây giờ chưa đúng lúc, phải không?
- Nghĩa là...
- Nghĩa là em sanh con rồi, chưa về sống với anh đâu. Phải chờ đến lúc cách mạng thành công đã.
Mặt Đực buồn hẳn đi, gã bối rối:
- Mà điều thỉnh thoảng cũng gặp nhau chớ.

- Dĩ nhiên rồi. Sau mỗi lần công tác hoàn tất em sẽ tìm anh. Chả mong gặp anh thì gặp ai.
Nói rồi Vấn lục sắc lấy một tấm ảnh trao cho Đực:
- Đây em tặng anh tấm ảnh này để anh nhớ mãi tới em.
Mắt Đực sáng lên. Gã đón vội lấy bức hình và giơ lên ngắm nghía. Bức ảnh chụp Vấn ngồi vắt vẻo trên một cành cây. Nàng bận áo sơ mi cổ bẻ, thắt lưng da buộc ngang bụng, ống quần bó ở gấu và đi dép Bình Trị Thiên. Vấn giảng giải:
- Hình này em chụp từ hồi còn ở Học-sinh-đoàn trong Quảng Bình. Anh thấy có khác bây giờ không?
Đực đáp:
- Không khác bao nhiêu. Khi đó em có vẻ học trò hơn.
Vấn cười:
- Thì học trò chụp hình làm sao lại không giống học trò được. Nhưng nói vậy chớ, cũng cực lắm nghe. Hồi đó phong trào phát động lên rồi, tất cả bọn này tình nguyện theo hết. Lúc tập trung ở Xuân Hội, tổng số dễ lên tới năm trăm người. Nhà nước gửi bọn này cho đồng bào địa phương, cứ ba bốn đứa một nhà, ăn chực nằm chờ gần một năm mới khai giảng lớp học. Trong thời gian chờ đợi, tụi em phải trồng rau, chăn vịt, làm đồng, nghĩa là chủ nhà cần gì thì mình làm nấy. Về sau cực quá, tụi nó trốn hết, tới ngày khai giảng chỉ còn ngót nghét có hai trăm.
 Mặt Vấn đang vui bỗng buồn hẳn đi. Cặp mắt long lanh bỗng trở nên xa vắng. Nàng bồi hồi xúc động như vừa va phải những kỷ niệm nhớ thương nào trong dĩ vãng. Hồi đó Vấn yêu một anh cán bộ miền Bắc tên Dương. Hai người hợp thành một cặp đẹp đôi nhất Xuân Hội. Khi mãn khóa, Vấn tiếp tục theo Dương đi công tác khắp vùng cao nguyên, và gần hai năm sau, họ làm lễ cưới ở trại Kim Đồng. Đám cưới cử hành thật giản dị và có ban văn nghệ giúp vui. Vấn nhớ chương trình hôm đó có tới hai vở kịch cùng qui về một vấn đề hôn nhân.
Vở thứ nhất diễn tả một anh chồng phải lên đường chiến đấu ngay trong ngày cưới. Đêm tân hôn anh ta nằm ngoài vòng rào kẽm gai của đồn địch. Rồi sau đêm giao chiến, anh ta tặng vợ một chiến công để làm quà động phòng.
Vở thứ hai nói về “nhiệm vụ người ở nhà” của một cô vợ có chồng phải lên đường chiến đấu. Đến lúc nghe tin chồng tử trận, cô nàng không những không khóc lóc mà còn giơ tay thề thốt sẽ noi gương chồng để phục vụ cho cách mạng. Câu chuyện khuôn thước, một chiều, phản tâm lý, tình cảm đến thế mà hồi đó Vấn cho là hay, là có ý nghĩa sâu sắc.
Ba tháng sau ngày cưới, Dương phải từ giã Vấn để đi công tác dưới đồng bằng, rồi biệt tích luôn ở dưới đó. Có người báo tin là Dương đã chết trong một trận đánh lớn ở miền Hậu giang. Vấn đau khổ tưởng có thể chết được. Nàng nằm liệt một chỗ và bỏ công tác hàng tháng trời. Ý nghĩa của những vở kịch trong đêm liên hoan ngày cưới bây giờ đã trở thành những hình ảnh mỉa mai, chua chát. Lý thuyết với thực tế quả thật đã khác nhau một trời một vực.
Trong những ngày đau khổ, Vấn được gần gũi với Phú, một gã làm ở văn phòng Bí thư Khu ủy. Thái độ mềm mỏng, dịu dàng của Phú khiến nàng nguôi được nỗi đau buồn để có thể đứng dậy tiếp tục làm việc. Một hôm, Phú yêu cầu nàng đi theo công tác trên sóc Thượng. Phú tổ chức uống rượu cần và Vấn đã say bí tỉ ngày hôm đó. Lần đầu tiên sau khi Dương biệt tích, Vấn tìm lại được nụ cười. Nàng thấy men rượu đưa mình vào một thế giới khác, thế giới bồng bềnh của lãng quên, của sự dìu dặt, nâng niu tâm hồn của mình bay bổng trên từng cao. Rồi đêm hôm đó hai người không về. Vấn không còn nhớ mình đã làm những gì trong suốt quãng thời gian còn đứng vững được trên căn nhà sàn đang bắt đầu xoay tròn chung quanh. Chỉ đến sáng hôm sau tỉnh lại, Vấn mới thấy mình lõa lồ trong chăn ấm của Phú. Thế là nỗi khổ đau cuối cùng của nàng đối với Dương cũng đã bị tước đoạt nốt. Vấn đã nghiến răng nhìn Phú hằn học:
- Anh khuyến khích tôi uống rượu để lãng quên và tìm lại nghị lực phục vụ cho đoàn thể. Sự phục vụ ấy là đây có phải không?
Phú im lặng không nói. Con người thật của gã đã trở lại qua ánh mắt sắc như dao, cặp môi mím chặt lại đầy vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn. Trên đường về, hai người im lặng. Tiếng lá khô giòn vỡ nát dưới chân, Vấn nghe như lòng mình cũng đang vỡ nát.
Nhưng chỉ ít lâu sau, Phú hết sức ngạc nhiên khi thấy Vấn lại tự ý rủ mình đi uống rượu cần. Chuyến này Vấn say sưa quá độ và lột xác hoàn toàn. Nàng cho Phú hết mình trong lúc say sưa, nhưng đến lúc rã rượu, nàng lại trốn Phú như lẩn trốn một con trùng độc. Sau, Phú bị hạ tầng công tác và bị đổi xuống đồng bằng. Hôm chia tay, Phú nói:
- Tôi không bao giờ quên được em.
Vấn nhún vai lạt lẽo:
- Đừng nói chuyện tình nghĩa. Cả hai chúng ta cùng là phương tiện của nhau đó thôi.
Rồi Phú ra đi nhẹ nhàng như một chiếc lá khô lìa cành. Vấn ở lại, hăng hái lao đầu vào công tác như một tín đồ trung kiên với đoàn thể. Cuộc sống của nàng bỗng ồn ào như một cơn lốc mạnh. Làm việc hết lòng, phục vụ quá mức, tình nguyện bất cứ một nhiệm vụ nào, như một cánh bướm rã rời tung tẩy nốt những phấn hương còn lại trước khi nằm ép trên nệm cỏ cô đơn chờ bị hủy diệt.

Thấy Vấn im lặng hồi lâu, Đực liền đặt tấm ảnh vào tay nàng và nói:
- Cho anh mấy chữ vào đây chớ.
Vấn mỉm cười:
- Anh muốn ghi cái gì nào?
- Gì cũng được.
Vấn lấy bút ra hí hoáy viết:
- “Tặng anh để nhớ em mãi – Vấn”
Đực coi đi coi lại nhiều lần với đầy vẻ cảm động, rồi gã bỗng hỏi:
- Cái gì Vấn đây. Kỳ thật. Sắp có con cái với nhau rồi mà tên họ của nhau cũng chưa rõ.
Vấn lại mỉm cười lấy bút ghi thêm chữ Dương ở trước chữ Vấn. Đực thắc mắc:
- Không có tên đệm sao?
- Không.
- Kỳ cục quá há.
Đực vừa nói vừa mỉm cười nhìn Vấn. Gã trịnh trọng đặt tấm ảnh vào túi áo trên rồi hứa hẹn:
- Anh sẽ mang nó trong mình suốt đời.
Vấn hỏi:
- Anh yêu em thật sao?
Đực ngạc nhiên:
- Sao lại hỏi gì kỳ cục vậy?
Vấn không đáp ngả người vào lòng Đực. Nàng hôn Đực một cách nhiệt thành. Lần đầu tiên hôn một người trai khác, Vấn không thấy có hình ảnh của Dương chen vào. Nhưng giây phút quí báu ấy trôi qua như một sợi chỉ rất mỏng manh. Dương biến đi rồi lại hiện ra. Khuôn mặt khôi ngô của chàng chồng chất lên vẻ mặt chất phác của Đực. Rồi cả hai hình ảnh ấy nhòe đi hết. Trên gò má của Vấn hai giọt nước mắt chẩy xuống long lanh.

                                  * *
                                   *
Trong cơn thức ngủ chập chờn, Đực mơ thấy nửa vai trần trắng nhễ nhại của Vấn nóng bỏng dưới làn môi của mình. Gã gọi tên Vấn cuồng nhiệt. Nhưng Vấn bỗng vuột đi rất xa và tiếng gọi của Đực chỉ trở thành tiếng ú ớ. Gã cố gắng vùng vẫy để thoát khỏi cái cảm giác khô đắng ở họng thì lão Đối hiện ra ở đầu giường. Giọng lão hoảng hốt:
- Cái gì vậy Đực. Mầy làm sao thế?

Đực choàng tỉnh hẳn và nhận thức được cơn mê sảng của mình. Gã bẽn lẽn ngồi dậy, vươn vai thật dài. Lão Đối nhìn gã một giây nữa rồi vừa quay đi, vừa nói:
- Cháo ếch xong rồi đó. Có dậy mà ăn không?
Đực hỏi:
- Mấy giờ rồi tía?
- Dễ quá nửa khuya rồi.
Đực chép miệng:
- Vậy mà tôi cũng ngủ được một giấc dài. Sống ở ngoài đó, nhiều khi đói, nhưng đói ngủ là thường nhất.
-Hay ngủ tiếp đi, để nồi cháo đó tới mai.
Đực mỉm cười:
- Thôi, chờ đợi làm chi mất công. Tôi đói, ngủ không được.
- Ngủ không được mà mớ, la như la làng.
- Ủa! Tôi la lắm hả. Tôi la cái gì tía nghe rõ không?
- Tao đâu có để ý. Nghe đâu như mầy gọi thằng nào tên Vấn.
Đực ngập ngừng một giây rồi nói:
- Không phải thằng nào đâu. Con gái đó.
Lão Đối ngạc nhiên:
- Con gái nào nhỉ?
- Để vừa ăn cháo tôi vừa kể cho tía nghe. Bữa nay tôi về ngủ đêm ở nhà là vì chuyện đó đó.
Một lát sau, Đực thổ lộ cho lão Đối tất cả tâm sự thầm kín của mình. Rồi gã kết luận:
- Các thứ thuốc cần dùng có ghi cả trong mảnh giấy đó. Tía cố lo mua giúp giùm tôi. Chợ không có thì lên quận, mà quận không có thì lên tỉnh.
Lão Đối hậm hực, vặc lên:
- Tổ cha nhà mầy, mầy làm như tao phải chịu tội đi hoang cho mầy không bằng.
Đực giận dữ:
- Hoang cái gì chớ. Bộ tía tưởng tôi coi nó như loại người mèo tha, quạ mổ ngoài giữa lộ sao. Nói cho tía hay, tôi lấy nó làm vợ đó.
- Mầy lấy ai thì mặc cha mầy, mà điều đừng có ỉ eo gì tới tao.
- Thì dẫu sao nó cũng là con dâu của tía mà.
- Dâu với dia gì. Mầy ưng nó, mầy ngủ với nó, mầy có hỏi tao lấy một tiếng không?
- Thì bây giờ tôi hỏi đó!
- Rồi nếu tao không ưng thì mầy tính sao?

- Chèn ơi! Thời buổi này mà tía làm như hồi tía còn xuân xanh không bằng. Chuyện vợ chồng thì chỉ một mình tôi ưng là đủ thôi chớ.
- Ừ, thì mầy ưng mầy cứ ưng. Tao đâu có thèm xía vô. Mà điều đừng có bắt tao lặn lội xuôi ngược để lo những thứ đồ mắc dịch này.
Đực bực bội đứng dậy:
- Cái đó tùy tía. Nó không có thuốc uống lúc hộ sinh, rồi mệnh hệ nào thì tôi oán tía tới già.
Nói rồi Đực bỏ ra ngồi hút thuốc ở ngoài hiên, sau khi ném lại mẩu giấy xuống cạnh nồi cháo còn nghi ngút khói. Lão Đối ngồi chết trân bên ngọn đèn dầu lù mù. Một nỗi chán chường dâng lên làm lão muốn được yên nghỉ như những người đã an phận nằm xuống để khỏi phải dính líu đến chuyện quê hương, chuyện xóm làng chuyện những người thân thích, ruột thịt. Nhưng rồi cuối cùng lão cũng phải nhặt mảnh giấy lên, soi nghiêng vào ánh đèn. Mảnh giấy kín mít những chữ. Lão chỉ lõm bõm đọc được một vài tiếng Việt như dầu nóng, bông gòn, kim băng, dép quai...còn tựu chung toàn là những tên thuốc tây ngót nghét cũng tới mười mấy thứ.
Ngắm nghía mãi chán, cơn hậm hực đã nguôi nguôi được chút đỉnh lại trào lên. Lão nói bâng quơ:
- Bằng đây thứ, có làm ông hoàng cũng chả có tiền mà mua cho đủ.
Đực nói vọng vào:
- Có cái gì mà ông hoàng bà chúa.Vài ba thứ thuốc trụ sinh, đồ Mỹ rẻ như bèo.
- Rồi còn bông gòn, còn dép quai...
- Mấy cái đồ bỏ ấy mà tía cũng kể là ăn nhằm. Không biết lúc bình an tía lo cưới vợ cho tôi, tía tính bỏ ra bao nhiêu đây?
- Vậy ra là mầy nhắm vào tiền cưới hỏi đó hả? Tao nói cho mầy hay, nếu tao có làm đám cưới cho mầy, tao chỉ có một bữa kỳ nhông mời bà con cô bác tới chứng kiến mà thôi. Thời buổi chiến tranh mà, giết ai ra tiền đây?
- Thôi tía đừng có nói nhiều. Tía không bằng lòng mua thì thôi. Không phải vì thế mà tía rỉa róc. Nói tía hay, tía không cho thì chẳng phải vì thế mà tôi không có những thứ đó đâu.
Nói rồi Đực ngồi bật dậy, ném điếu thuốc đang hút dở vào bóng đêm mù mịt. Gã hùng hổ đi vào, khoác cây súng lên vai. Phản ứng dữ dằn của gã làm lão Đối chột dạ. Lão đứng án ngữ ở ngay chỗ ra vào rồi hỏi Đực:
- Mầy đi đâu?
- Tôi đi đâu mặc tôi. Tía đã coi tôi không ăn nhằm gì tới tía thì can gì tía phải hỏi.
- Giờ nầy mầy xách súng đi ngơ ngơ ở ngoài đó, lính phục kích nó bắn chết cha mầy.

Đực chua chát:
- Đó là tía muốn vậy chớ đâu phải tại tôi.
- Tổ cha nhà mầy. Muốn mua cái gì thì cũng phải bán dăm con gà, con qué rồi mới có tiền, chớ bộ hô một tiếng là phải có ngay cho mày sao?
Vẻ mặt của Đực đang lạnh lẽo bỗng vui lên một chút. Gã nhìn sững ông già một giây rồi đổi giọng dịu dàng:
- Thì ai bắt tía phải có ngay mà tía la. Nhờ tía, nó mẹ tròn con vuông rồi thế nào tôi cũng đem cả mẹ con nó về cho tía thấy mặt một lần.
Lão Đối vẫn hậm hực:
-         Tao hổng có ham!


                                    (còn tiếp)