Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013

nhà văn Nhật Tiến : Sự thực không thể bị chôn vùi ( kỳ 6)



       
                                       (tiếp theo)

Nhà văn Nguyên Ngọc:
những suy nghĩ và  hành động trong
cao trào văn nghệ phản kháng

                                                             Nhật-Tiến

                                                          Nhà văn Nguyên Ngọc 

                                                                                   

Nhà văn Nguyên Ngọc (tên thật là Nguyễn văn Báu), sinh năm 1932 tại Quảng Nam. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập quân đội năm 1950. Tốt nghiệp trường Lục quân Khu 5, tham gia chiến trường một thời gian rồi trở thành phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân, khu 5. Tác phẩm đầu tay “Đất nước đứng lên “ xuất bản năm 1956 viết về cuộc chiến đấu của một thanh niên thuộc bộ lạc Bahnar tên là Núp và dân làng Kông Hoa, được trao giải nhất về tiểu thuyết thuộc giải Văn Học 1954-1955 của Hội Văn Nghệ Việt Nam (miền Bắc). Sau đó in tiếp những tác phẩm như: Mạch Nước Ngầm, Rẻo Cao, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng. Năm 1962, là chủ tịch Chi Hội Văn Nghệ Giải Phóng miền Nam Trung Bộ và phụ trách tờ báo Văn Nghệ Quân Giải Phóng Khu 5, sáng tác với những bút hiệu khác như Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim.

Sau 1975, ông ra Hà nội, công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, rồi phụ trách Ban Thường Vụ Hội Nhà Văn V.N trong cương vị Bí thư Đảng Đoàn. Nhìn lại quá trình sáng tác của Nguyên Ngọc từ 1956 đến l975, Nguyễn văn Long trong Tự Điển Văn Học V.N. đã nêu nhận định :

“Sự quan tâm hàng đầu đến những vấn đề có ý nghĩa trọng đại lịch sử của dân tộc và cách mạng cùng với niềm say mê những tính cách anh hùng khiến cho tác phẩm của Nguyên Ngọc mang tính chất hùng tráng lại đậm nét trữ tình và chất lý tưởng .”

Sau năm 1975, trong sự tan rã của chế độ VNCH miền Nam, và trước những vấn đề nẩy sinh trong cuộc thống nhất đất nước do sự hòa nhập ồ ạt của dân chúng hai miền Nam Bắc sau hơn một phần tư thế kỷ cách biệt vì chia cắt, người cầm bút nói chung đã phải đối diện với những thực tế ngày càng gay gắt. Vấn đề khả năng quản lý và lãnh đạo của các cán bộ miền Bắc trong sinh hoạt xã hội miền Nam. Vấn đề cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư doanh. Vấn đề tù nhân Cải tạo với sự dính líu liên hệ gia đình của nhân dân cả hai miền. Vấn đề thất bại thảm thương của chiến dịch vận động đi Kinh tế mới (lý thuyết thì rất hay ho nhưng thực tế là cả một sự đầy đọa quần chúng trong tinh thần vô trách nhiệm). Vấn đề thuyền nhân ồ ạt ra đi. Vấn đề hủ hóa của những con người đã từng đóng góp tích cực cho cách mạng. Và đời sống xã hội ngày càng đi xuống về cả mặt vật chất lần tinh thần. Đó là những lý do mà sau 1975, giới cầm bút đã không đưa ra được những tác phẩm có giá trị tiêu biểu, tương xứng với “thành quả vĩ đại” mà chế độ miền Bắc đã đạt được sau cuộc chiến thắng mùa xuân 1975.

Rõ ràng đã có một sự trăn trở trong tâm thức người cầm bút khi họ nhìn ra xã hội chung quanh, với đầy rẫy những gai nhọn của đời sống thực tế hằng ngày. Và đó hẳn cũng là lý do mà Đảng Đoàn Hội Nhà Văn Việt Nam đã phải tổ chức hội nghị một số đảng viên trong Hội để bàn về “Sáng tác văn học” vào tháng 6-1979 để bước đầu trao đổi ý kiến trước khi đem ra thảo luận rộng rãi trước toàn thể hội viên.

Nhân danh Bí thư Đảng đoàn, nhà văn Nguyên Ngọc đã đọc một bản “Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội Nghị Đảng Viên bàn về sáng tác văn học”.

Nếu trước đây, lao mình vào cuộc chiến với “Sự quan tâm hàng đầu” những vấn đề “có ý nghĩa lịch sử dân tộc và cách mạng” và với niềm “say mê những tính cách anh hùng”,  Nguyên Ngọc đã viết như một sự đóng góp hăng hái cho cuộc chiến đấu mà ông nghĩ là thần thánh, viết như một tuyên dương cho những cá nhân xả thân vì lý tưởng anh hùng cách mạng, thì nay trong bản Đề dẫn kể trên, nhà văn đã có dịp thẩm định lại quá trình sinh hoạt văn học của giới cầm bút với cái nhìn thâm trầm hơn, sâu xa hơn và thoát ly được cái tình cảm bồng bột, say mê vì lý tưởng hơn. Ông nhận định rằng:

“Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận riêng của từng người, từng thành viên trong đội ngũ lớn đó thì còn quá sơ lược, giản đơn. Mặt yêu nước nổi bật lên và đây là chỗ mạnh của văn học ta thời kỳ này như đã nói ở trên nhưng mặt đấu tranh xã hội thì không rõ bằng. Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh nhưng còn tính sần sùi, phức tạp của đời sống thì yếu hơn. “

Tính sần sùi, phức tạp của đời sống ấy là gì, nếu không là tính cách trở lại với con người đích thực cùng với những nỗi khốn cùng mà con người phải chịu đựng trong chiến tranh.

Thân phận con người như thế, trong một thời gian dài bị khỏa lấp đi vì những nhu cầu của chiến tranh, nhưng khi hòa bình trở lại, nó đã trở thành mối day dứt của những người cầm bút có lương tri khi một mặt phải trực diện với những thân phận đó hiện diện đầy rẫy trong xã hội trước mắt, và một mặt khác viết lách vẫn phải nằm trong sự chi phối của tính Đảng, tính cách mạng, để chỉ có thể in ấn được những gì có tính cách “phải đạo”.

Đó là lý do mà Nguyên Ngọc đã phải nêu lên trong bản đề dẫn:

“Chính trong thời điểm này, các lực lượng văn học của ta trước nay đã hình thành được một thế bám sâu khá đẹp trên các địa bàn, ở các mũi nhọn của cuộc sống nay hầu hết đều bị bật ra khỏi các vị trí của mình. Mất liên hệ với đời sống chúng ta bỗng bối rối mất phương hướng “, và rằng : “Phải chăng lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết văn cứ viết mà không thật tin ở chính điều mình viết ra . “Người là muối mà chính người lại không mặn thì biết lấy gì để muốí người. “ Văn học nói theo một cách nào đấy là lòng tin. Không có lòng tin lớn thì không bao giờ có thể có văn học lớn. “ (Bản đề dẫn, tháng 6-1979)

Bước sang lãnh vực lý luận, phê bình văn học, một hình thức công an văn hóa nhằm ngăn chặn và triệt tiêu ảnh hưởng của những tác phẩm đi ra ngoài lề lối văn chương “phải đạo”, cũng trong bản đề dẫn nói trên, nhà văn Nguyên Ngọc nhận định:

“Có lẽ điều đáng lo hơn cả trong tình hình công tác lý luận, phê bình văn học thô thiển kéo dài, là ở chỗ nó đã tạo nên có thể nói là những định kiến xã hội đơn giản, dung tục đối với văn học, xói mòn năng lực thẩm mỹ của người đọc, mặt khác thấm cả vào chính người cầm bút, xói mòn ý chí sáng tạo, dũng khí sáng tạo nghệ thuật và ý thức trách nhiệm xã hội đứng đắn của nhà văn, tạo nên sự cản trở vừa ở ngoài họ, quanh họ và ở chính họ. “

Trên cương vi một bí thư Đảng đoàn, và với sự mẫn cảm về tình trạng sinh hoạt văn học tồi tệ của một người cầm bút có lương tri, vào thời điểm đó (tháng 6-1979), Nguyên Ngọc tuy mong muốn đi tìm một lối thoát cho sự sáng tạo của người cầm bút, nhưng vì ông vẫn còn tin tưởng ở đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nên phương hướng giải quyết vấn đề của ông vẫn không ngoài sự trông cậy vào sự chỉ đạo của giai cấp lãnh đạo. Ông nhận định :

“Một nguyên nhân khác nữa đã hạn chế những thành tựu của văn học ta vừa qua là ở sự chỉ đạo cụ thể đốí với sáng tác. Nói chung vừa qua, trong chỉ đạo sáng tác chúng ta còn dừng lại ở chỉ đạo đề tài, chưa đi sâu vào chỉ đạo chủ đề hoặc có thì cũng còn khá chung chung. Chỉ đạo đề tài là rất quan trọng. Buông lỏng chỉ đạo đề tài sẽ để dẫn đến phủ nhận chức năng xã hội của văn học. Đánh đồng tất cả đề tài tức là phủ nhận sự cần thiết văn học phải luôn luôn hướng vào những mũi nhọn nhất của đời sống và như vậy cũng không thể nhận ra tính đúng đắn sâu sắc của những chủ đề lớn, những nội dung lớn của đời sống. Nhất là khi trong hiện thực diễn ra những biến động sâu, mạnh, phức tạp, thì việc chỉ đạo chủ đề càng có ý nghĩa quyết định “ (Đề dẫn, tháng 6,1979)

Đúng là lề lối suy nghĩ của Bí thư Đảng đoàn của một hội nhà văn trong sinh hoạt của một xã hội đã gần một phần tư thế kỷ luôn luôn chịu đựng sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền, phủ nhận khả năng suy nghĩ và cảm hứng tự do sáng tạo của người cầm bút.

Tuy nhiên ngần ấy năm trời trôi qua, từ 1979 đến 1987, hẳn thời gian đã đủ chín mùi để nhà văn Nguyên Ngọc ngày càng cảm thấy khả năng của giới lãnh đạo văn nghệ không phải là vô hạn, và nhất là sự rung cảm nghệ thuật của họ lại càng không phải là sự rung cảm nghệ thuật của người cầm bút chân chính.

Do đó, con người văn nghệ của Nguyên Ngọc hẳn đã đấu tranh kịch liệt với con người Bí Thư Đảng Đoàn, và kết quả là nhà văn Nguyên Ngọc đã nhẩy vô nhập cuộc với phong trào văn nghệ phản kháng tuy trễ tràng hơn một năm sau so với những báo khác, nhưng lại là sự đóng góp tích cực nhất, tiêu biểu nhất, dọn đường để cho nhiều nhà văn phản kháng có cơ hội đưa ra ánh sáng những tác phẩm của mình.

Nhận công tác Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Nhà Văn V.N. từ tháng 6, 1987, nhà văn Nguyên Ngọc phải lèo lái tờ báo ngay đúng thời điểm phong trào văn nghệ đổi mới đang lên cao với những đồng nghiệp nhập cuộc sớm sủa khác như tờ Tiền Phong, Lao Động, Phụ Nữ, Tuần Tin Tức ở miền Bắc, hay những tờ Đại Đoàn Kết, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Sông Hương,  Lang Bian,.., ở miền Nam. Tuy trễ hơn các đồng nghiệp khác hơn một năm sau, nhưng với sự lèo lái của người Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc, tờ Văn Nghệ đã mau chóng trở thành ngọn cờ đầu đăng tải những truyện ngắn, những bài ký có nội dung phản kháng sâu xa và mạnh mẽ, gây được sự hưởng ứng hết sức sâu rộng và có tiếng vang rộng rãi cả trong nước lẫn ngoài nước. Sau đây là phần nhận định của nhà văn Mai văn Tạo trong việc đánh giá sự đóng góp của tờ Văn Nghệ trong phong trào văn chương đổi mới:

“Tờ Văn Nghệ xông thẳng vào những vấn đề vô cùng bức xúc của con người và xã hội, phanh phui, phê phán và lên án những hành vi xấu xa tội lỗi xúc phạm đến đời sống và con người. Khoảng cách giữa đời sống và thơ văn trên trang báo dần dần thu ngắn lại. Những bất công xã hội, bọn cường hào mới, kẻ lợi dụng chức quyền vơ vét của công ức hiếp nhân dân được nhìều ngòi bút có lòng còn dũng khí vạch mặt và tố giác gắt gao, nghiêm khắc. Cái đêm hôm ấy đêm gì, Vua lốp, Tiếng hú con tàu, Tướng về hưu, Công lý chẳng quên ai... tưởng chừng không bao giờ được ra mắt người đời, thì nhiều tháng qua đã phơi bầy trên những trang Văn Nghệ. Chưa bao giờ báo Văn Nghệ hội tụ được đông đảo người sáng tác trên khắp mọi miền đất nước như thời gian qua. Và chính vì thế,  độc giả từ Bắc chí Nam đã đón nhận Văn Nghệ như người bạn trung thực, đồng cảm cảnh ngộ oan khuất của mình. Chưa bao giờ  Văn nghệ  được coi là tờ báo của mọi người như  những tháng gần đây.

 (Các nhà văn nói về vụ  “báo Văn Nghệ” - Đất Việt, Canada, tháng 2-1989)



                                     (còn tiếp)

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

BAC BA PHI ĐI THĂM MỸ ( KỲ 83)

                                         (tiếp theo)

       

Ong hoạ sĩ già quát lên :
“ Vậy thì trẻ già lớn bé, trí thức, thợ thuyền, nhà nông …tất cả biến hết thành những con cừu à ? Tất cả ngậm miệng hết để cộng sản muốn làm gì làm à ?”
Cô hoạ sĩ Ban Mai cười cười :
“ Vậy bác muốn mọi người làm gì ? Nổi lên chống nhà nước cộng sản à ? Còn lâu nhé. Ở ngoài này các bác mới nghĩ tới chuyện đó , còn  trong nước ai dám nghĩ tới chuyện tầy đình ấy ? Họ chỉ nghĩ đến làm ăn sinh sống miễn sao gia đình sung túc, đầy đủ, chẳng ai dại gì chống đdảng chống nhà nước, chẳng được cái gì mà lại tù tội, tan cửa nát nhà…”
Ong hoạ sĩ nổi cáu :
“ Dân thường cam chịu đã đành. Thế còn cô ? Cô là hoạ sĩ trẻ, cô không đấu tranh đòi quyền tự do sáng tác à ?”
Cô hoạ sĩ trẻ lắc đầu :
“ Tôi vẫn tự do sáng tác đấy chứ, tôi có bị cấm đoán gì đâu…tôi vẽ tranh trừu tượng mà…tôi có vẽ cái gì bôi xấu chế độ đâu…nếu cứ vẽ trừu tượng thì vẽ thoải mái, muốn vẽ sao vẽ chẳng có ai cấm đoán mình…”
 Tình hình có vẻ căng thẳng, bà chủ gallery vội nhảy vào dàn hoà :
“ Thôi thôi…mình dẹp ba cái chuyện chính trị ấy đi…nhức đầu…giờ mời hai bạn và bác đây vào coi tác phẩm của cô hoạ sĩ đây mới mang từ Hà Nội sang…”
Bác Ba Phi líu ríu theo chân mọi người vào buồng trong. Í mèn ôi, trong một căn phòng rộng, đèn sáng choang, trên tường treo một loạt tranh khổ lớn tất cả đều là của cô hoạ sĩ Ban Mai . Bác Ba Phi trợn tròn cả mắt cũng chỉ thấy tranh vẽ toàn những hình loằng ngoằng, mầu sắc xanh đỏ tím vàng loạn xạ, ấy vậy mà cô hoạ sĩ giới thiệu này là bức “ Mưa xuân”, bức “ Nỗi nhớ”, bức “ Trừu tượng đông”, bức “Hà nội gió”…Oi chết chết , vẽ như vậy mà gọi là tranh ấy ư ? Chẳng hạn như bức “ Trừu tượng phố”, bác cứ đứng giương mắt lên coi cũng chẳng thấy phố xá đâu, chỉ thấy những ô vuông, ô tròn , những hình tua rua, những vệt khói…Ong hoạ sĩ nhìn vẻ mặt cứ nghệt ra của bác Ba Phi, bật cười :
“ Sao ? Bác thấy sao ? Tranh đẹp không ?”
Bác Ba Phi lắc quày quạy :
“ Chịu…chịu…tôi không hiểu cô này vẽ cái gì nữa …”
Bà chủ gallery bật cười :
“ Vậy mới nói là tranh trừu tượng mà…”
Ong hoạ sĩ gật gật :
“ Cô vẽ được đấy…trừu tượng vốn là của phương Tây nhưng cô vẽ được với tâm hồn Việt Nam.Trong tranh người ta thấy được sự hài hoà giữa dịu dàng và cuồng nhiệt, bùng nổ và trầm lặng, hạnh phúc và khổ đau…tôi thích bức “Trừu tượng phố”, nó dồn nén nhiều khát vọng chưa đạt tới, nhiều dục vọng bị dồn nén…”
Bác Ba Phi cứ há hốc cả miệng ra nghe ông hoạ sĩ già khen ngợi các bức tranh của cô hoạ sĩ trẻ. Bác lấy làm lạ không hiểu sao cái cô Ban Mai từ Hà Nội sang này vẽ vời nhăng nhít vậy lại được ông hoạ sĩ Việt kiều khen rối rít. Cứ coi tranh cô thì cứ trợn ngược cả mắt lên cũng chẳng hiểu cô vẽ cái gì ? Vẽ ngược vẽ xuôi vậy bố ai hiểu ? Mà vẽ thế này thì đến một cái lông chân của đảng nhà nước cũng chẳng đụng tới, tha hồ vẽ thoải mái, trách gì cô chẳng tự do vẽ, chẳng ai động tới. Nhưng vẽ vậy để làm gì ? Bác buột miệng kêu lên :
“ Cô vẽ vầy ai mà coi được ?”
Cô hoạ sĩ đang được  ông hoạ sĩ già khen ngợi nở nang cả mặt mày bị bác Ba Phi choang cho một câu, đỏ mặt tía tai, cao giọng :
“ Tôi chỉ vẽ cho những người hiểu biết. Còn không thì thôi, đừng có coi tranh của tôi…”
Bác Ba Phi nóng mắt :
“ Cô nói vậy đâu có được. Cô phải vẽ sao cho bất kỳ ai cũng coi được chứ ?”
Ong hoạ sĩ già cười cười :
“ Tự do sáng tác mà bác. Ai muốn vẽ gì vẽ….vẽ  mọi người coi cũng được , vẽ một số  người am hiểu thưởng thức cũng không sao . Vậy mới gọi là tự do chớ…Chỉ có điều vẽ thế này chắc chắn nhà cầm quyền cộng sản khuyến khích vì nó chẳng ảnh hưởng gì tới cái ghế của họ. Vẽ thế này tha hồ vẽ chẳng sợ cấm đoán, bắt bớ, trù dập gì hết…”
Bác Ba Phi quay sang cô hoạ sĩ :
“ Vậy cô chỉ vẽ ma thôi à ? Có vẽ cảnh thật, người thật không ?”
Cô hoạ sĩ cau mày :
“ Tôi vẽ trừu tượng chứ không vẽ ma. “
Bác Ba Phi lại hỏi :
“ Vậy có có vẽ người nông dân kéo nhau đi khiếu kiện đòi ruộng đất, vẽ người công nhân đình công đòi tăng lương không ?”
Cô hoạ sĩ lắc đầu quày quạy :
“ Không đời nào…không đời nào tôi vẽ những cái đó. Vẽ thế có mà vỡ nồi cơm…”
Bác Ba Phi đắc ý :
“ Cô còn trẻ vậy mà thua cả ông hoạ sĩ già này. Ong già vậy mà còn dám vẽ cảnh người vượt biên chết trên biển ”
Nói rồi bác dựng bức tranh của ông hoạ sĩ già lên cho mọi người coi :
“ Vầy nè…vẽ vầy mới gọi là vẽ nè…”
Ong hoạ sĩ hiểu ngay tâm tư của bác Ba Phi. Thật ra tranh pháo thế nào bác ta không quan tâm, bác chỉ quan tâm mỗi chuyện bán bức tranh này cho bác có tiền gửi về nhà cho vợ chồng thằng Đạu thôi.
Cô hoạ sĩ ngắm nghĩa bức tranh của ông hoạ sĩ già, gật gù :
“ Bác vẽ thế này …ấn tượng lắm..nhưng chắc là khó trưng bày ở trong nước. Mấy vị ở Sở văn hoá thông tin thấy vẽ chuyện vượt biên thế nào cũng giãy nảy lên…”
Ong hoạ sĩ già gật đầu :
“ Tôi biết…tôi thừa biết chuyện đó…bởi vậy có bao giờ tôi mang tranh về nước bày đâu. Tôi vẽ cho bà con bên này coi thôi. “
Rồi ông quay sang bà chủ gallery :
“ Bức tranh này trước đây nhiều người hỏi mua tôi không bán. Nay tôi bán đó, chị mua đi…”
Bà chủ gallery ngập ngừng :
“ Cách nay mười năm ông bán thì tôi mua ngay, còn bây giờ…còn bây giờ…ông cứ trưng bày ở đây,  ai hỏi mua tôi sẽ bán giúp…”
Ong hoạ sĩ ngớ người,  kêu lên :
“ Chi bắt tôi ký gửi à ? Sao kỳ vậy ? Chị đã từng nài nỉ tôi bán mà tôi chưa chịu mà. Giờ tôi bán cho chị đó…”
Bà chủ gallery gật đầu :
“ Bác nói rất đúng, trước đây tôi tùng nài nỉ bác bán mà bác không chịu. Giờ thì tôi chỉ dám nhận để bác ký gửi thôi…”
Ong hoạ sĩ ngạc nhiên :
“ Sao lạ vậy ? Trước nài nỉ , giờ lại không. Vậy là sao ?”
Bà chủ gallery giải thích :
“ Ong thông cảm cho chúng tôi. Buôn bán tranh thật ra cũng chẳng khác gì buôn bán quần áo thời trang. Hồi đó bà con mới vượt biên sang đây nên quan tâm tới đề tài này lắm. Tranh loại này của bác thời đó ăn khách lắm, nếu bán vào hồi đó chắc chắn có người mua ngay. Còn bây giờ…”
Ong hoạ sĩ sốt ruột :
“ Còn bây giờ thì sao ?”
“ Bây giờ chuyện vượt biên nhạt đi rồi, chỉ còn một số người già nhắc tới nó vào dịp 30 tháng Tư mà họ coi là ngày quốc hận thôi. Đa số lớp trẻ bây giờ không còn muốn nhắc tới chuyện đó nữa, họ quan tâm tới chuyện làm ăn, kiếm tiền, đi du lịch. Bởi vậy tranh của bác hiện nay khó bán lắm…Nếu bác đồng ý xin gưì lại đây nếu có ai hỏi mua tôi bán giúp…”
Ong hoạ sĩ bực mình :
“ Vậy chừng nào bán được ?”
Bà chủ gallery lắc đầu :
“Làm sao tôi biết được. Nhưng chắc là lâu đấy. Bây giờ chẳng ai còn muốn nhớ lại những chuyện kinh hoàng này nữa đâu…”
Bác Ba Phi như bị dội cả thùng nước lạnh vào nỗi háo hức có được tiền gửi về cấp cứu cho vợ chồng thằng Đậu. Bác cố vớt vát :
“ Chị nói gì kỳ vậy ? So với những bức tranh vẽ rối mù của cô này thì bức tranh “vượt  biên” này giá trị, dễ bán hơn nhiều chớ ? vẽ công phu vậy kia mà?”
Bà chủ lại lắc đầu :
“ Không phải cứ vẽ công phu là bán được đâu. Như bức tranh  “trừu tượng phố” của cô Ban Mai đây. Nom loằng ngoằng vậy mà đã có người đặt mua rồi đó. Nhưng họ mới trả 3000 đôla mà tôi chưa bán đó…”
Bác ba Phi kêu lên :
“ 3000 đôla bức tranh vẽ loằng ngoằng như khói thuốc vậy ư ?”
Bà chủ gallery gật đầu :
“ Đúng vậy đó. Nói như bác, tranh vẽ loằng ngoằng vậy mà bán được lắm đó…”
Bác Ba Phi cứ ngẩn cả người. Thật chẳng còn hiểu ra sao nữa. Bức tranh vượt biên vẽ công phu, hoành tráng thế kia mà bà chủ tranh này lại không chịu mua, còn bức tranh vẽ lôi thôi như con nít bôi màu thế kia lại được trả giá ngay tới 3000 đôla thì thật không sao hiểu nổi.
Ong hoạ sĩ thở dài :
“ Nói thực với chị ..đây là bức tranh kỷ niệm, tôicó định bán đâu…ngặt vì bác Ba Phi đây đang cần tiền cứu hai vợ chồng đứa cháu ở nhà không thì chúng nó sa vào phá sản có khi còn tù tội nữa, nên tôi mới mang bán tranh để giúp bác…”
Nói rồi ông hoạ sĩ kể lể dài dòng về chuyện vợ chồng thằng Đậu bị thất bát trong vụ nuôi  cá ba sa ra sao, dự định nuôi ba ba thế nào. Ong kết luận :
“ Cũng là tại tôi…tôi nói đùa tranh bác Ba Phi bán có giá lắm ít cũng 3000 USD, bởi vậy bác mới tin tưởng gọi điện về cho vợ chồng thằng Đậu nên tụi nó ỷ y cứ trông vào tiền ông gửi về mới nằm há miệng chờ sung…”
Bà chủ gallery tròn mắt :
“ Bác Ba Phi cũng vẽ tranh ?”
Bác Ba Phi ngượng ngùng :
“ vẽ vời gì đâu…tôi thấy ông hoạ sĩ này vẽ lung tung, quệt ngang quệt dọc nên tôi cũng bắt chước thử coi sao ? Hoá ra đâu có thành tranh…vứt sọt rác cả rồi…”
Ong hoạ sĩ cười hềnh hệch :
“ Thì tôi đùa chơi thôi mà…ai ngờ bác ba Phi cứ tưởng tranh mình là kiệt tác bán được 3000 USD nên mới gọi điện về cho vợ chồng đứa cháu là vợ chồng thằng Đậu yên trí bác sẽ gửi  tiền về làm tụi nó dài cổ ra chờ chẳng cần làm ăn gì hết…”
Bà chủ gallery kêu lên :
“ Chết…lại còn đua dai đến thế kia ư ? Đùa vậy bằng giết người ta còn gì ?”


                                       (còn tiếp)

Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : Nhân Giáng Sinh nhớ linh mục Joe Devlin



Linh mục Joe Devlin 
s
ứ giả của tình thương
:



Tôi biết rằng dù mình có diễn tả đến bao nhiêu thì cũng không thể nói hết được tấm lòng của một con người ngoại quốc đã nghĩ đến, đã cảm thông và đã lo toan cho đồng bào ở đây, trại tỵ nạn Songkhla nằm ở miền Nam Thái Lan, ven sát bờ biển và xuống gần biên giới của Mã Lai Á. 

Người đó là Linh mục Joe Devlin, một tu sĩ Thiên Chúa Giáo đã từng lăn lộn, chia sẻ với số phận của dân tộc Việt Nam chẳng phải từ bây giờ nhưng ngay từ khi miền Nam chưa mất vào tay CS. 

Dấu chân của Ngài đã từng in dấu ở nhiều địa danh miền Nam : Phan Thiết, Long Khánh, Biên Hòa, Vũng Tầu, Bình Tuy, Minh Hải và bây giờ là trại tỵ nạn Songkhla. 

L.M Joe Devlin sinh năm 1915 tại Hoa Kỳ. Ngài đậu tiến sĩ Thần học và thụ phong Linh mục năm 1941 tại San Francisco. Ngài đến VN năm 1970, do lời mời của bác sĩ Phan Quang Đán khi đó là Quốc Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang, lập ấp. LM Joe đã khởi sự hoạt động tại vùng Đồng Tháp Mười để ổn định đời sống tinh thần cho 10 ngàn đồng bào VN vừa rời khỏi vùng CS về với chính thể quốc gia. 

Năm 1974, Ngài xin ra Phan Thiết để lo vấn đề tỵ nạn do các làn sóng trốn tránh CS từ miền Trung và Cao nguyên đổ về. Ngài thường tự hào nói với chúng tôi rằng mình đã làBoat People trước cả những thuyền nhân ở đây. 

Từ năm 1975 đến năm 1979, Ngài hoạt động mạnh mẽ tại các trung tâm tỵ nạn ở Hoa Kỳ. 

Tháng 11-1979, Ngài tình nguyện qua phục vụ ở trại tỵ nạn Songkhla, Thái Lan. 

Như thế, Ngài đã tới với dân tộc Việt Nam để cảm thông và chia sẻ với số phận của một dân tộc nhược tiểu vốn chìm đắm trong khói lửa từ hơn nửa thế kỷ vừa qua. Ngài cũng tới để cảm thông và chia sẻ với dân VN về những nỗi đớn đau, kinh hoàng trước cơn sụp đổ toàn diện của miền Nam cùng với những nỗi đau thương thống khổ mà mọi nguời đã phải chịu đựng dưới sự thống trị bạo tàn của CS. 

 

Và giờ đây, Ngài đã tới với những thuyền nhân vừa chân ướt chân ráo rời con thuyền rách nát lên bờ, quần áo còn tả tơi, khuôn mặt còn chưa phai những nét bàng hoàng vì vừa trải qua những biến cố thảm khốc kinh hoàng trên biển cả. Họ như những kẻ vừa đội mồ chui lên rất cần một bàn tay săn sóc, một sự giúp đỡ dù nhỏ nhặt, và nhất là một sự an ủi tinh thần đối với những tâm hồn đang cực kỳ hoang mang, suy sụp. Linh Mục JOE DEVLIN đã làm được tất cả những công việc đó. 

Gần 70 tuổi đời, với thân hình cao lớn, mái tóc bạc phơ, giọng nói ồm ồm như ống lệnh, quần áo giản dị, với một chiếc xe đạp cũ kỹ, Ngài đã mải miết ngày này qua ngày khác, đạp xe đi qua con đường sạn đạo từ tỉnh lỵ Songkhla vào trại tỵ nạn, ở lại với mọi người từ sáng đến chiều, kể cả ngày nắng cũng như ngày mưa. 

Vào buổi trưa Ngài cũng không nằm nghỉ để kiên nhẫn đánh vật với một lũ con nít tại lớp học Anh ngữ mà học rò nhiều khi ham vui hơn là ham học. Nhiều hôm lớp học chỉ còn 3,4 đứa nhưng Ngài vẫn nghiêm chỉnh làm công việc của mình với một tấm lòng tận tuỵ hiếm có, sửa từng giọng đọc, nắn từng câu sai. 
Sau giờ dạy học buổi trưa, Ngài xuống khu Nhà Trẻ Không Thân Nhân để giám sát việc chăm sóc các em rồi đến nhà thờ làm Thánh lễ buổi chiều. 


 Khu Nhà Trẻ Không Thân Nhân đuợc xây cất bằng vật liệu nhẹ khởi sự từ một chuyện xẩy ra ở trong trại vào đúng ngày 28-02-1980. Hôm ấy Ngài đạp xe đi trên con lộ duy nhất của trại mà dọc một bên là các dẫy lô lều, phía bên kia là hàng rào kẽm gai ngăn cách trại với bờ biển. Ngài bỗng bắt gặp một bé gái đang đứng khóc một mình ở bên lề đường. Ngài dừng xe lại hỏi han và phát giác ra được rằng đây là một bé gái không có thân nhân nào trong trại, tên Phương Thu Trang, tuổi lên 10. 

Thật ra thì đã có nhiều hoàn cảnh như thế ở đây, có em thì vì cha mẹ, anh chị em đã bỏ xác ngoài biển khơi, có em thì gia đình gửi gấm bà con, bạn bè xuống thuyền vượt biển nhưng khi nhập trại vì ai cũng thiếu thốn cơ cực nên không còn thì giờ bận tâm đến những đứa nhỏ đã đi theo mình. 
 Ngay buổi chiều hôm ấy, trong bu
ổi thánh lễ tại nhà thờ, Linh mục Joe Devlin đã không giảng đạo mà chỉ bầy tỏ sự giận dữ của mình trước sự thờ ơ của mọi nguời đối với những hoàn cảnh trẻ em bơ vơ như bé Phương Thu Trang. Khuôn mặt của ngài đỏ rừ vì xúc động. Vành môi của Ngài run hẳn lên. Ngài cho thấy là mình không thể tưởng tuợng được những chuyện như thế lại có thể xẩy ra. Rồi Ngài kết luận : 

- Tôi muốn rằng từ nay có bất cứ trường hợp nào như vậy thì mọi nguời phải thông báo cho tôi. Không thể để cho trẻ em sống vất vuởng một mình được. Tôi nhắc lại : không thể được ! 

Thái độ của Ngài đã khiến cho nhiều người bưng mặt khóc vì xúc động. 

Ngay ngày hôm sau, một nhóm thuyền nhân trong trại hợp tác với Hội đồng Giáo xứ đã nhóm họp để thảo luận và đề ra những biện pháp để giải quyết vấn đề như theo ước muốn của Ngài. Và chỉ hai tuần sau, một Trung tâm Nhà Trẻ Không Thân Nhân đã được thành hình với tiền túi của Linh mục Joe Devlin. Một khu lô lều được sửa chữa lại khang trang, có bếp, có giếng bơm, có chỗ ăn ngủ kể cả một phòng học rộng rãi, sạch sẽ. Hoạt động của Trung tâm này nhắm vào những mục tiêu cụ thể như sau : 

- Nuôi ăn các em hằng ngày với khẩu phần gia tăng đầy đủ bổ dưỡng do ngân quỹ của cha Joe đài thọ. 

- Dạy các em một số giờ văn hoá như lịch sử, địa dư VN, tập vẽ, học hát, học Việt ngữ và Anh ngữ. 

- Huớng dẫn các em trong các sinh hoạt giải trí, trò chơi, thể dục thể thao. 

- Giới thiệu các em tới các trung Tâm Thiện nguyện , giúp các em theo dõi hồ sơ giấy tờ để xin các Hội bảo trợ các em đi định cư. 

Hôm làm lễ khai mạc trung tâm, có tới 60 trẻ em không thân nhân được thu nhận. Cho tới nay (tháng 6-1980), Trung tâm vẫn sinh hoạt đều hòa, đem lại cho các em rất nhiều an ủi cả về vật chất lẫn tinh thần trong hoàn cảnh các em bơ vơ không nơi nương tựa và trong thời gian các em chờ đợi đi định cư. 



 

Trên đây mới chỉ là một trong những công trình mà Linh mục Joe đã thực hiện cho thuyền nhân trong trại này, xuất phát từ một tấm lòng nhân ái, cao cả và một sự cảm thông đến tận cùng về những khổ đau mà dân tỵ nạn đã phải chịu đựng. 

Trên áo mặc của ngài luôn luôn có ghi hai chữ SOUTH VIETNAM như đã nói lên rằng miền Nam luôn luôn gắn bó trong trái tim của Ngài. Chính vì sự tận tụy với dân tỵ nạn qua những sự trợ giúp mau chóng và hữu hiệu của Ngài mà thuyền nhân trong trại bất kể là theo tôn giáo nào nều đã tôn vinh Ngài như một Sứ giả của tình thương. Ngài đi tới đâu là lũ con nít cũng ùa đi theo. Đứa níu áo, đứa cầm tay. Chúng đã đến với Ngài bằng tất cả tâm hồn ngây thơ và chân thật của chúng. Nhiều cô gái nạn nhân trên biển, sau những tháng ngày chờ đợi, lúc lên đường đi định cư, đã cầm tay Ngài áp lên khuôn mặt của họ và để cho những giọt nước mắt cứ chẩy chan hoà trên bàn tay của Ngài, những giọt nuớc mắt của những tâm hồn xúc động đến tận cùng vì lòng biết ơn sâu xa đối với những gì mà Ngài đã làm cho họ nhưng họ không thể diễn tả được hết bằng lời. 

Nhiều nguời khi cộng tác với Ngài trong các dịch vụ xã hội, lúc có tên lên đuờng đi định cư đã khóc xin Ngài can thiệp để được ở lại phụ với Ngài trong các công tác thêm một thời gian nữa. 

Nhưng không bao giờ Ngài chấp thuận cho ai đuợc ở thêm lại. Ngài nói: 

“ Phải rời khỏi nơi đây càng sớm càng tốt !” 

Rồi Ngài cười vui vẻ: 

“ Phải đi cho hết thì tôi mới rời khỏi đây được chứ !’ 

Đó là lòng tự nguyện của Ngài. Ngài muốn ở lại cho đến khi không còn người nào trong trại. Mỗi năm, Ngài phải xin gia hạn cư trú trên đất Thái một lần. Nếu ở VN không có gì thay đổi thì những năm cuối cùng của cuộc đời Ngài, hẳn Ngài vẫn còn gắn bó với thuyền nhân tỵ nạn ở đây. Chúng tôi vẫn thuờng nói: trái tim của Ngài hừng hực lửa. Ngọn lửa soi sáng cho chính chúng tôi, dạy cho chúng tôi những bài học về tình yêu thương cao cả. Trong các bài giảng của Ngài trên nhà thờ, bao giờ Ngài cũng có một dụng ý sâu xa, đó là phá vỡ cái mặc cảm tự ti của nhiều nguời tỵ nạn. Ngài đã nhắc đi nhắc lại trong hầu hết các buổi rao giảng những lời như sau : 

“Chính chúng tôi, những nguời ngoại quốc, phải học tinh thần dũng cảm và sự hy sinh vô bờ bến của các anh chị em. Trong lịch sử của nhân loại, không có một trường hợp nào mà một dân tộc lại phải đối phó với nhiều hiểm nguy đến như vậy trên biển cả để đánh đổi lấy một đời sống tự do như dân tộc của anh chị em . . .” . 



Nhật Tiến 
(Bút ký viết từ Songkhla - 1980)
PHỤ CHÚ :

Năm 1990, LM Joe Devlin hồi hưu và cư ngụ tại Los Gatos, thuộc miền Bắc California. Đã có hàng trăm đồng hương VN sống quanh đó, vốn là thuyền nhân và đã được Ngài trợ giúp, nghe được tin về Ngài đã kéo nhau tới thăm hỏi, mừng tủi và ôn lại những gì mà Ngài đã thực hiện ở trại tỵ nạn.

Ngài mất vì bệnh ung thư và nghẽn động mạch vào ngày 23 tháng 2 năm 1998, trước sự thương tiếc của thân nhân Ngài gồm một em gái và ba người em trai, trong số đó có L.M Raymond Devlin cũng cư ngụ ở Los Gatos. Nhiệm vụ của ngài được giao phó trước khi Ngài mất là chủ trì Thánh lễ cho các giáo dân VN và Phi Luật Tân tại nhà thờ Nữ Vương Hoà Bình (Our Lady of Peace Church) ở Santa Clara.

Tuy Ngài đã được yên nghỉ đời đời nơi cõi vĩnh hằng, nhưng hình ảnh của Ngài, tấm lòng cao cả vô biên của Ngài mãi mãi thuyền nhân VN sẽ không bao giờ quên.




Nhật Tiến

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU ( KỲ 104)


                                   (tiếp theo)


Từ đó đồng chí Bí thư nổi tiếng sáng tác thơ. Thơ ngâm trên đài phát thanh, thơ phổ nhạc trình diễn tại các đêm “vầng trăng cổ nhạc”, thơ in thành sách…Nếu không phải Bí thư thành uỷ, chắc Hội nhà văn Việt Nam dã kết nạp ông. Vì từ trước nay, trong hàng ngũ lãnh đạo đảng đặc cách có đồng chí Tố Hữu là vào hội , nhưng mà là hội viên danh dự. Còn cỡ uỷ viên trung ương như ông chẳng hội nào dám kết nạp . Thượng số mới chỉ là một ông Thứ trưởng nông nghiệp, thơ con cóc vẫn vào hội, vẫn trình diễn thơ phổ nhạc ở nhà hát lớn, nhưng thơ ông không nổi tiếng bằng những vụ móc túi công quỹ khiến suýt nữa ông phải gỡ lịch.
Khổ nỗi, tuy  nổi tiếng thơ văn vậy nhưng thỉnh thoảng mồm miệng thiên hạ vẫn cứ rộ lên  đồn thổi chuyện đồng chí Bí thư xài bằng rởm . Trong chuyện này người bực mình nhất không phải ông mà lại là vợ ông. Giá như bà ở nhà chuyên giữ chìa khoá két và tề gia nội trợ như các phu nhân cán bộ cao cấp khác thì chẳng sao vì chuyện bằng cấp của chồng là rởm  hay thiệt chẳng là cái gì , có thằng đéo nào không bằng rởm, cứ gì chồng tao, cái ghế  mấy ông mới là quan trọng, cứ giữ cho thiệt vững là chuyện gì cũng êm. Khốn nỗi phu nhân đồng chí Bí thư thành uỷ lại là nhà giáo, hơn thế nữa lại  dậy chính trị trường Đảng, dư luận chuyện học hành của lãnh đạo thành phố , nhất chuyện bằng rởm của chồng bà thường hay lây lan trong trường Đảng làm bà bực mình lắm. Có lần quá giận, bà về xài xể ông :
“ Ong bớt làm thơ đi cho tôi nhờ.Thiên hạ nó riễu ông là tiến sĩ rởm tức nó chê ông dốt, ông có làm cả trăm bài thơ cũng chẳng bịt được mồm tụi nó…”
Đồng chí Bí thư nhăn nhó :
“ Vậy bà bảo tôi phải làm gì ? Bằng của mình là bằng thiệt chớ bộ. Mình đăng ký đề tài, làm luận án, chỉ có điều mình bận trăm công nghìn việc, em út nó giúp đỡ chứ có gì đâu ?”
Bà bật cười :
“Ong chạy theo tụi nó mà thanh minh. Nếu không được thì đề nghị thường vụ ra nghị quyết từ nay cấm không được ai  bàn thảo tới  bằng tiến sĩ của đồng chí Bí thơ nữa…”
Đồng chí Bí thư thở dài:
“ Nếu ra nghị quyết mà bịt được miệng thiên hạ thì tôi làm từ lâu. Khổ nỗi liệu có đứa nào chấp hành không hay nó lại chửi cho…”
Bà đâp tay vào vai ông :
“ Cái ông này, người đâu mà thật thà, tôi nói giỡn chơi chớ ra nghị quyết vậy khác nào  lậy ông tôi ở bụi này …”
Đồng chí  Bí thư nhăn nhó :
“ Vậy bà bảo tôi phải làm gì cho chúng nó hết đồn thổi …”
“ Chúng nó chê ông dốt thì ông chứng tỏ là tao giỏi, tao trình độ cao, tao dậy được cả chúng mày vậy sao tao phải xài bằng rởm ?”
Đồng chí Bí thư tròn xoe mắt :
“ Dậy chúng nó ? Bà bảo tôi phải dậy cái gì ? Liệu tôi có …dậy được  không ?”
Bà vợ phì cười :
“ Thì lâu lâu ông cứ xuống trường Đảng giảng lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô, Trung Quốc, Việt nam. Rồi thì giảng 3 câu 6 điều về kinh điển Mác Lênin. Cái đó ai chả làm được …”
Ong Bí thư mừng rỡ :
“ ừ nhỉ, cứ tới trường đảng lên lớp dậy là chúng nó sáng mắt ra hết…”.
Thế là ông sai ngay Trưởng ban tuyên huấn thành uỷ thuê các giáo sư bên Viện Mác Lênin viết bài giảng . Từ đó tuần nào người ta cũng thấy đồng chí Bí thư phóng xe xuống trường Đảng giảng bài chẳng khác gì giáo sư thỉnh giảng chính cống.
Một lần có anh huyện uỷ viên được cử đi học, vì còn trẻ, lại đã qua trường quản trị nên học hành say mê, ham tranh luận, ham tìm tòi lắm. Vào một buổi học về Tuyên ngôn đảng cộng sản do đích thân  đồng chí Bí thư thành uỷ xuống giảng bài, anh ta hăng hái thắc mắc :
“ Báo cáo đồng chí Bí thư, có phải trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do Các Mác viết có ghi rõ :” Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất : Xoá bỏ chế độ tư hữu”. Có đúng không ạ ?”
Ong Bí thư vui vẻ :
“ Hoàn toàn đúng. Các đồng chí cứ giở Toàn tập Mác Lênin ra thế nào cũng tìm thấy câu cốt lõi của Mác đó. Đảng ta là đảng của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động, xoá bỏ tư hữu và bóc lột là phẩm chất cơ bản của người cộng sản.”
Anh huyện uỷ viên càng thêm hăng hái :
“ Báo cáo đồng chí Bí thư, đã chủ trương xoá bỏ tư hữu  vậy sao đảng  còn  cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, cho phép đảng viên đứng tên nhà, đất và mở tài khoản ngân hàng ?”
Ong Bí thư ngớ ra, xưa nay lời lẽ của ông Các Mác, ông Lênin, ông Hồ Chí Minh nghiễm nhiên là “thánh phán”, là chân lý bất di bất dịch , ngàn đời không sai, nhưng xoá bỏ tư hữu tức là xoá bỏ trang trại,  biệt thự, tài khoản gửi ngân hàng nước ngoài mà ngày nay mấy ông cán bộ đảng viên không ai là không có. Cán bộ càng to, “tư hữu” càng lớn, thử hỏi mấy cha Uỷ viên trung ương Đảng có cha nào không có biệt thự, đất đai, trang trại ?  Xoá cái đó đi à ? Có mà tan mẹ nó đảng, bác Hồ  sống lại cũng chẳng làm được chuyện đó. Ngược lại, cứ cái đà “múc” và “vét” công quỹ thế này thì đảng  ta lại càng phải khẩn trương thừa nhận quyền tư hữu, trước hết là tư hữu đất đai, phải thay ngay cái khái niệm dở hơi “ quyền sử dụng đất” bằng “quyền sở hữu đất” để hợp pháp hoá những thứ mà cán bộ đảng viên cướp được. Yêu cầu đó ngày nay đã trở nên bức xúc, đã trở thành “ý Đảng”. Cuộc sống đã diễn ra như vậy rồi mà vẫn nhắm mắt tụng kinh Mác Lê đòi xoá bỏ “tư hữu” ai mà nghe ? Nhưng mà “kinh điển” vẫn là “kinh điển” bố thằng nào dám động tới. Bởi vậy ông vẫn trợn mắt giải thích nào đảng ta là đảng của giai cấp vô sản, nào đảng ta lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm kim chỉ nam, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm đuốc soi đường, nào …vân vân và vân vân. Học viên gồm phần lớn cán bộ được cử đi học đã kinh qua nhiều năm công tác đảng mà nghe đồng chí Bí thư giải thích vẫn ù cả tai, hoa cả mắt . Sau cùng ông kết luận :
“ Các đồng chí phải tin tưởng Bộ chính trị , Ban bí thư và Ban chấp hành trung ương lèo lái con thuyền của đảng đi đúng theo lý tưởng cộng sản Mác Lênin đã vạch ra cho nhân loại, đúng theo con đường bác Hồ đã chọn cho toàn dân ta…”
Anh cán bộ huyện uỷ xem ra chưa thông cho lắm, lại giơ tay thắc mắc :“ Báo cáo đồng chí Bí thư vậy đến bao giờ đảng ta mới xoá bỏ tư hữu đúng theo lời dậy của Các Mác…”
Ông Bí thư thành uỷ mặt đỏ tía tai, trợn mắt :
“ 10 năm…20 năm…100 năm …hoặc lâu hơn nữa…tuỳ theo sự giãy chết của chủ nghĩa tư bản. Các đồng chí phải tin tưởng, đừng nóng ruột, ngay đến sự nghiệp “trồng người “ bác Hồ nói phải mất cả trăm năm huống hồ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản vốn lâu dài và gian khổ, có khi phải mất cả ngàn năm ấy chớ…”
Cả lớp chợt cười ồ làm ông Bí thư nổi cáu :
“ Sao các đồng chí lại cười ? Tôi nói vậy không đúng sao ?”
Mọi người im thin thít, anh cán bộ huyện uỷ xem ra cũng hết cả thắc mắc, đứng dậy khúm núm :
“ Dạ báo cáo đồng chí Bí thư đồng chí nói đúng quá ạ. Xây dựng chủ nghĩa xã hội mà ta vẫn còn đang mò mẫm vậy thì xây dựng chủ nghĩa cộng sản mất cả ngàn năm là đúng rồi ạ…”
Cả lớp lại ồ lên cười. Ong Bí thư tức quá cho tan học rồi không thèm ghé phòng giáo vụ như mọi lần, ông ra ngay xe ô tô đang chờ sẵn phóng về thành phố.

Câu chuyện “muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản phải mất cả ngàn năm” bay tới tai ông Hiệu trưởng trường đảng ngay tối hôm đó, lúc ông đang “thư giãn” tại quán karaoke “ Đồng Quê” với ông Giáo sư , tiến sĩ về môn sử Đảng.
Ong Hiệu trưởng vốn xuất thân học sinh tranh đấu thời trước 75 nên dù có mấy  em gái xinh như mộng ngồi bên cạnh tuổi 8x chẳng biết quốc gia với cộng sản là cái chi chi mà ông vẫn thích hát những bài “tiền cách mạng” như “Nào anh em nghèo đâu…liều thân cho đời sống…” rồi “ Vầng trời đông, ánh hồng tươi sáng bừng lên…”. Tối hôm đó, sau khi em gái hát bài “ em chỉ yêu anh thôi”, chăng hiểu bộ máy tiêu hoá có gì trục trặc, ông Hiệu trưởng nổi hứng “cách mạng” giật micro uốn giọng véo von :”nếu là chim xin hãy là loài bồ câu trắng…nếu là người xin hãy chết cho quê hương…”. Hết một bài, ông chơi tiếp bài khác :” Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu…một trăm năm nô lệ giặc Tây…” Ong Sử Đảng đang lim dim “hát bằng tay” đằng sau áo em tiếp viên chợt nghe ba tiếng “một ngàn năm”, giật mình nhớ ngay tới vụ thằng cha huyện uỷ viên “chọc quê” đồng chí Bí thư thành uỷ lúc sáng.  Ong Sử Đảng vốn chúa ghét thằng này, một lần  đi thực tế xuống huyện đó, lẽ ra nó phải tìm tới ông hầu hạ, đãi đằng, thậm chí còn quà cáp theo lệ thường nữa kìa, đằng này không, suốt một tuần ông ở huyện, nó trốn mất tăm, đã vậy nó còn chửi xéo :” tao dự đủ giờ, làm bài tốt, chẳng cần xin điểm thằng đéo, bởi vậy tao cần gì phải hầu hạ ai.” Chuyện tới tai ông Sử Đảng, ông thâm tím ruột gan, thề sẽ trả thù cho bõ giận. Bởi thế dịp may đã đến, chờ cho hai em tiếp viên lau khăn mát cho “sếp” xong , ông Sử Đảng mới ghé sang ông Hiệu trưởng :
“ Anh Bảy có biết sáng nay ông Bí thư thành uỷ giảng xong bài là phóng xe ngay về thành phố không ?”
Dẫu đang đê mê vì da thịt mát rượi của mấy em tiếp viên, ông Hiệu trưởng rất thính nhậy về ba cái chuyện kiểu này, trố mắt lên hỏi :
“ Tao tưởng ổng có việc phải về liền. Chuyện gì vậy mầy ?”
“ Hôm nay ở giữa lớp có thằng dám “chọc quê” đồng chí Bí thư …”
Ong Hiệu trưởng tỉnh cả rượu, toát mồ hôi :
“ Í chết mẹ…thật không mày? Có chuyện đó nữa hả ? Thằng nào chọc ? Chọc ra sao ?”
Ong Sử Đảng làm ra vẻ quan trọng :
“ Chuyện này tưởng nhỏ mà hoá lớn đó nghen…”
“ Lớn nhỏ gì nói mẹ nó ra, cứ ấp úng hoài…”
Ong Sử Đảng làm cạn ly rượu từ trong tay em tiếp viên ghé vào miệng rồi mới chịu lên giọng:
“ Sàng nay đồng chí  Bí thơ vừa giảng xong Tuyên ngôn cộng sản, thằng cán bộ dưới huyện giơ tay thắc mắc hỏi đến bao giờ đảng ta xoá bỏ được tư hữu ?”
Ong Hiệu trưởng rền rĩ :
“ Trời ơi, hỏi gì mà hỏi ngu vậy ? Có đời nào đảng xoá bỏ tư hữu bao giờ ? Thử hỏi mấy cha trên tỉnh, trên trung ương có cha nào là không “tư hữu”, chức càng cao, tư hưữ càng lớn…”
“ Khổ nỗi câu đó lại ghi ngay trong Tuyên ngôn cộng sản kìa…”
“ Nó ghi đâu kệ cha nó. Đảng ta không làm chuyện đó là được rồi. Chẳng lẽ cả đời đi theo cách mạng mới gom được một mớ vàng nhẫn, nhà cửa, ruộng đất cho con cháu . Giờ phải trả lại hết ấy ư ? Có mà loạn. Mác nói thì kệ bố Mác chứ…”
Ong Hiệu trưởng nín bặt. Ay chết, khéo vạ miệng, cũng may xung quanh chỉ có mấy em tiếp viên mà ngay đến ông Nguyễn Phú Trọng đang sống nhăn các em còn chẳng biết là ma nào huống hồ ông Mác ông Lênin. Ong vội cười chữa ngượng :
“ Chuyện đó là chuyện “nhạy cảm” của đảng sao thằng đó dám hỏi công khai vậy ?”
Ong Sử Đảng mách thêm :
“ Nó còn riễu câu nói của ông Bí thư “ ngay đến sự nghiệp “trồng người “ bác Hồ nói phải mất cả trăm năm huống hồ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản vốn lâu dài và gian khổ, có khi phải mất cả ngàn năm …”
Mấy em tiếp viên chợt cười ré, đấm vào lưng nhau thùm thụp làm ông Hiệu trưởng nổi cáu:
“ Sao lại cười ?  Có vậy mà cười hả ? Thì  xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp trăm năm, xây dựng chủ nghĩa cộng sản chẳng phải mất cả ngàn năm là gì ?  Tất nhiên với thiên tài của Đảng ta thì có thể rút ngắn nhưng không vì thế mà được cười riễu . Biết chưa ?”
Mấy em  tiếp viên im phăng phắc, một em  đánh liều lên tiếng :
“ Tụi em cười con Lan xài Diana ‘siêu mỏng, siêu thấm” mà vẫn còn rây trên ghế kìa. Tụi em đâu có biết chủ nghĩa cộng sản là cái chi chi đâu ?”
Ong Hiệu trưởng hồ nghi :
“ Mấy đứa nói thực không ? Vậy nhà trường không dậy hả ? Không chịu đọc sách hả ?”
Một em gái cười ré :
“ Có biết chữ đâu mà đọc sách. Ba má tiền ăn còn chả có lấy đâu tiền  đi học ? Tụi em , nhỏ đi bán vé số , có đít có dzú rồi thì đi làm tiếp viên, lấy chồng Đài Loan. Vậy cộng sản là thế nào mấy anh ? Ở nhà có lần chỉ nghe má nói tới Việt cộng thôi, đâu có nghe tới cộng sản…”
Ong Hiệu trưởng tò mò :
“ Má nói Việt cộng ra làm sao ?”
“ Má biểu Việt cộng giàu lắm, giàu hơn cả Việt kiều kìa. Có điều Việt cộng già rồi, vợ đùm con đề lại ham gái trẻ chắc chết sớm. Mình làm vợ nhỏ, ráng chịu đựng vài năm, nó chết, mình  ôm một mớ tiền đi lấy chồng mới…”
Mấy em tiếp viên lại cười rúm vào nhau. Ong Hiệu trưởng rền rĩ :
“ Trời đất ôi, mẹ nào dậy con tầm bậy tầm bạ vậy?”
Một em gái cất tiếng hỏi :
“ Mấy anh có phải Việt cộng không ?”
Ong Sử Đảng vui vẻ :
“Việt cộng chính gốc đây, lấy anh không ?”
Một cô nhảy lên ôm lấy cổ ông :
“ Lấy liền, lấy liền , mình làm đám cưới luôn bây giờ nha?”
Ong Sử Đảng cười sằng sặc :
“ Vậy em không sợ con vợ anh ở nhà à ? Nó còn dữ hơn sư tử Hà Đông đó…”
Cô tiếp viên vênh mặt :
“ Sợ gì … nó là sư tử thì em là khủng long em dẫm nó chết tươi…”
Ong Hiệu trưởng lắc đầu :
“ Chịu các cô thiệt. Đến thế này làm sao mà giáo dục chính trị tư tưởng tiếp bước cha anh được kia chứ ?”
Cô tiếp viên ôm lấy ông Sử Đảng :
“ Giáo dục chính trị tư tưởng là thế nào hả anh ?”
Ong này làm một động tác gì đó làm cô ta kêu oai oái :
“ Ay chớ , chớ thò tay vào chỗ đó, nó cắn đấy…”
Ong Sử Đảng cười ha hả :
“ Đó…đó…là giáo dục chính trị tư tưởng đó…”
Cô ngồi bên cạnh ông Hiệu trưởng cũng làm cái gì đó làm ông giật nảy người  Cô cười rinh rích :
“ Phải thế này là tiếp bước cha anh không ?”
Ong Hiệu trưởng sởn cả gai ốc, cố giãy ra :
“ Tầm bậy, tầm bậy nào…í í buông tay ra…chết…chết…”


                                 (còn tiếp)

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 20 )





                                     (tiếp theo)

.

Những ý nghĩ ấy làm Há chùn chân lại. Nó cảm thấy mệt mỏi khi nghĩ đến những nhiệm vụ ngổn ngang, chồng chất mà nó sẽ phải làm trong những ngày sắp tới. Há thấy nhớ tiếc thuở ngày xưa còn bé, được bắt nạt anh Hoanh, bắt nạt mọi người dưới vòng tay âu yếm, che chở của mẹ. Bây giờ, hình ảnh còm cõi, già nua này như xa lạ với khuôn mặt rạng rỡ của bà hồi xưa. Há muốn tìm một câu nói nào đó thật dịu dàng để vớt vát lại bầu không khí buồn thảm đang vây quanh, nhưng đầu óc của nó rối loạn cả lên. Tiếng khóc nức nở của bà cụ càng lúc càng to, khiến nó bối rối hơn nữa. Sự bất lực ấy đem lại cho Há một cảm giác khó chịu. Nếu phải vào những giây phút khác thì Há đã văng tục, chửi thề một cách dễ dãi để xua tan đi nỗi bực dọc. Nhưng lúc này, Há lại nhìn mẹ một cách lấm lét. Hồi lâu, nó mới cất tiếng rụt rè:
- Thôi, nào đã có ai sao đâu mà má khóc.
Bà cụ không đáp, càng nức nở thêm. Tiếng Thư từ buồng trong vọng ra gay gắt:
- Thì má đã biểu má không đi, tại sao mầy cứ làm phiền cho má khóc hoài vậy!
Mắt thằng Há long lên, nó hét một cách giận dữ:
- Chị câm cái miệng chị đi. Tôi không thèm nói với chị đâu.
Cánh cửa bật mở và Thư xuất hiện với tất cả vẻ dữ dằn. Nàng quát lên:
- Mày nói cái gì, thử nhắc lại nghe coi, Há!
Câu chuyện có vẻ bắt đầu gay cấn thì bỗng có một loạt súng nổ chát chúa ở ngay gần đó và tiếng người vọng lại lao xao. Mặt thằng Há vụt biến sắc, nó kêu lên:
- Tụi nó càn quét giấc chiều. Thôi chào má, tôi đi đây!
Nói rồi không kịp nhìn lại mẹ một lần cuối, Há phóng mình qua hàng giậu. Những tiếng súng lại tiếp tục nổ giòn và lần này có vẻ gay gắt hơn trước. Thư vội vàng kéo tay bà cụ đứng dậy nói lớn:
- Đi vô nhà, má! Ở đây đạn lạc nguy lắm.
Nhưng bà cụ đã giằng tay Thư ra và chạy bổ về phía ngõ. Vừa chạy bà vừa la:
- Kêu thằng Há lại... Trời đất ơi! Nó chạy vô đồng bây giờ thì nó chết ...
Rồi như điên cuồng, bà cụ gào thất thanh:
- Há ơi! Há!...
Một tràng súng chát chúa nổ gần ngay sát nách làm át hẳn tiếng bà cụ. Thư liệng đôi guốc cao gót qua một bên rồi chạy bổ ra. Nàng thấy bà mất hút sau một rặng dây leo đầy hoa đỏ. Thư cố gắng rượt theo. Đường trong xóm vắng ngắt bóng người, nhưng trên những lối đi tắt băng qua các bờ mương, Thư thấy rải rác có bóng dáng của những anh lính quốc gia hay dân vệ. Họ đang lục soát ở những lùm cây, dưới lạch nước hay trong những đống rơm cao ngất ngưởng.

Tới một khoảng đất trống ngay trước lối vào miễu Bà Lớn, Thư bắt kịp mẹ Hoanh. Bà cụ đang đứng lẫn lộn giữa một đám đông người. Nàng nhận ra Trung úy trưởng đồn Phi Mã với đoàn tùy tùng của ông ta. Họ đặt bộ chỉ huy cuộc hành quân lục soát ở đây. Một số đồng bào toàn người già, đàn bà hay con nít được lùa ra tập trung lố nhố trong một chu vi hẹp có lính hờm súng bao quanh.
Bộ phận máy truyền tin hoạt động tới tấp. Những tiếng lóng, những mật hiệu, những khẩu lệnh ngắn được gọi đi rộn rịp làm mọi người hướng mắt tất cả lại với vẻ tò mò, ngơ ngác. Riêng bà mẹ Hoanh vẫn còn đang giằng co trong tay một người lính trước mặt ông trung úy. Thư nghe thấy bà cụ la lên:
- Trăm lậy Trung úy... nghìn lậy Trung úy, xin Trung úy tha cho nó tội nghiệp. Nó là du kích nhưng anh nó là quốc gia. Anh nó có công với chính phủ...
Tiếng la của bà cụ bỗng bị chìm bẵng đi trong một dây đạn nổ giòn ở mé bên kia bờ mương. Chợt có tiếng người thét lớn:
- Nó đấy! Nó đấy!.. Thượng sĩ coi chừng, nó có súng ...
Những băng đạn khác lại ào lên, nổ chát chúa. Rồi bỗng có tiếng reo hò và tiếng chân chạy rậm rịch. Thư bủn rủn cả chân tay và nàng muốn khuỵu xuống. Bên tai nàng, tiếng bà mẹ Hoanh gào lên thảm thiết:
- Con ơi! ... Ới con ơi ...
Bây giờ thì bà đã nằm sóng sượt trên mặt đất. Mái tóc bạc trắng của bà xổ tung ra. Hai bàn tay khẳng khiu, cằn cỗi của bà cào thành từng vết sâu trên lớp đất bùn nhớp nháp....


CHƯƠNG CUỐI


Thư đứng ở trên một gò cao nhìn về phía có những cột khói đen lớn. Không gian mờ mịt với một khoảng trời u ám, ẩm sũng. Ấp Vĩnh Hựu, cầu chợ Lùng, Đồn Phi Mã và những vùng phụ cận nằm trọn ở đấy.
Trận đánh ác liệt đã xẩy ra từ hồi đầu tuần đến bây giờ vẫn chưa chấm dứt. Tiếng súng lớn ầm ì vọng lại hầu như liên miên bất tận. Trong bầu trời dầy đặc những đám mây xám xịt mầu chì, tiếng động cơ máy bay rền rĩ suốt đêm ngày. Thỉnh thoảng một dây bom lại được trút xuống làm rung chuyển cả mặt đất. Nhìn khung cảnh tàn phá trước mặt, Thư không ngờ mình lại dửng dưng đến thế. Không một kỷ niệm nào đem lại cho nàng đôi chút xao xuyến. Hình như bom càng lớn, cột khói càng lên cao, thì dĩ vãng càng mau chóng thi nhau tan biến trong tâm trạng thờ ơ của nàng.
Bởi vì còn gì có thể nhớ tiếc khi tất cả đều đã bị hủy diệt trong khoảnh khắc. Cây đa không còn, mái bếp cũng không, sân đất nhỏ hẹp với chum nước mưa cố hữu mà Thư vẫn thường tắm về đêm cũng đã hoang tàn. Ngay cả những con đường thân thuộc với bụi duối dại mọc hai bên lề cũng bị cầy nát. Sự mất mát xảy ra quá nhanh, quá phũ phàng khiến cho lòng mọi người như trơ lại.
Đã có lúc ngồi dưới mái lều trong trại tạm trú, Thư lên tiếng hỏi bà cụ mẹ chị Lầu:
- Nhà tan cửa nát, cụ tiếc không?
Bà cụ giương đôi mắt gần như mù lòa, hướng về chốn cũ rồi thở dài:
- Người còn chẳng tiếc được, tiếc chi nhà cửa, đất cát.
Vừa nói bà cụ vừa nâng thằng Hòa lên với vẻ xót xa. Nó bụ bẫm như một thiên thần, thằng thiên thần mồ côi ngay từ khi còn đỏ hỏn. Khi tiếng súng đầu tiên nổ ở ngoài cánh đồng, bà cụ vẫn không có ý định rời bỏ chốn cũ. Ba mẹ con, bà cháu rúc xuống hầm đất dưới gậm giường. Chị Lầu ngơ ngẩn:
- Chắc có anh Lầu đi ngoài vuờn.
Bà cụ im lặng không nói. Chị trao thằng Hòa cho mẹ chồng rồi bò nhoài lên miệng hầm. Bà túm ngay áo chị, cố kéo lại. Chị cằn nhằn:
- Sao má không để con ra đón ảnh. Thế nào ảnh cũng ghé về thăm nhà mà, má!
Bà cụ gắt lên:
- Nó về sao được. Nó còn mắc đi hành quân. Mày chui ra bây giờ, mũi tên hòn đạn dữ dằn thế kia, làm sao mà tránh.
Chị Lầu ngoan ngoãn ngồi vào một góc. Bóng tối lờ mờ từ trên hắt xuống soi thấp thoáng khuôn mặt võ vàng của chị. Ngày xưa chị ít nói, từ ngày anh Lầu bị thằng Đực phục kích chết, chị càng ít nói hơn. Rồi bỗng nhiên chị sinh ra cái tật chỉ đối thoại với chính mình. Chị thủ thỉ như có anh Lầu đang ngồi âu yếm bên cạnh chị. Những lúc đó, hai mắt của chị rực sáng, vẩn lên những tia máu đỏ ngầu. Nhưng cơn điên khùng của chị chỉ ở trong mức độ nhẹ nhàng ấy thôi. Chị lôi quần áo của anh Lầu ra may vá. Nhiều hôm chị kêu anh ở dơ rồi mang tất cả quần áo của anh ra giặt giũ ngoài bờ mương. Một lần ông Năm Điếc đi thăm mộ thằng Dụng trở về, trông thấy bèn ngừng lại hỏi:
- Chị Lầu làm chi đó?
Chị ngẩng lên cười sung sướng:
- Con giặt đồ bác ơi!
Lão tiến lại gần chị, chỉ trỏ vào những bộ quần áo đàn ông:
- Tổ cha mấy thằng du kích, bắt dân hầu hạ đấy có phải không?
Chị Lầu nhớn nhác:
- Đâu? Du kích đâu hả bác? Chết rồi! Bác bảo anh Lầu trốn đi.
- Mày nói cái gì?
- Cháu lậy bác. Bác đừng chỉ chỗ anh Lầu ở đây nghe không.
Chị Lầu vội vùi đống quần áo xuống bùn sâu rồi ngỏn ngoẻn đứng dậy, cầm cái chổi làm bộ quét sân. Lão Năm trố mắt ra nhìn. Bà cụ Lầu từ trên thềm cao bỗng trõ xuống nói:
- Nó khùng, đừng có chấp nó, ông Năm.

Lão Năm Điếc quay lại nhìn. Trông thấy bà cụ, lão mỉm miệng cúi đầu chào. Bà cụ tiếp:
- Ngó vậy mà nó không dữ dâu, ông Năm.
Ông Năm gật đầu lia lịa:
- Phải, phải.. tôi thấy cả đoàn xe súng lớn đi qua cầu. Nhưng như thế thì không dữ sao được. Liệu mà chạy đi thôi.
Rồi ông hấp háy cặp mắt nhìn về phía quốc lộ. Người ông cao lêu đêu, mái tóc bạc trắng gần đụng chùm hoa xoan lả ngọn xuống gần bờ mương. Quần áo của ông đầy bùn và đất, ống quần được xắn lên ngang đầu gối để lộ hai cẳng chân khẳng khiu trắng bệch như hai ống sậy. Một trận gió ào qua lùm cây. Những giọt nước mưa còn đọng lại rớt xuống đất lộp bộp. Ông khẽ rùng mình, vội giương cây dù rách lên cao. Rồi ông vừa đi vừa nói lớn:
- Thằng Dụng rồi. Thằng Sách rồi. Thằng Há rồi. Thằng Lầu rồi. Sao mãi chẳng tới lượt mình đây?


*.
                              *
Đời sống trốn tránh, thập thò dưới hầm trú ẩn kéo dài được đúng ba ngày. Đến mờ sáng thứ tư thì lửa bắt đầu cuồn cuộn bốc ra từ một đám cháy sau một loạt súng lớn nổ rung chuyển khắp khu vực Đầm Tròn. Những cuộn khói đen bị cuốn đi bởi những cơn lốc quây tròn càng làm ngọn lửa bốc cao hơn, nom xa như một con con rồng lửa. Mọi người chạy túa ra ngoài như những đàn chuột bị hun khói. Tiếng chân chạy rầm rập xen lẫn tiếng kêu gào, la khóc nhiều lúc chìm lỉm đi dưới những tiếng nổ kinh hoàng làm rung chuyển bờ cây ngọn cỏ. Đoàn người tị nạn ùa lên nằm la liệt bên bờ đê ven quốc lộ. Không gian sáng rực như ban ngày vì ánh hỏa châu xen lẫn với những làn chớp sáng rực của từng quả đạn xé tan bầu trời.
Ở trong ấp Vĩnh Hựu, căn nhà của mẹ Lầu bị lửa phát cháy ngay trên đầu hồi. Khói mù mịt tuôn xuống miệng hầm sặc sụa. Chị Lầu nổi cơn điên túm chặt lấy thằng bé không rời chỗ nấp và nói luôn mồm:
- Để chờ ba nó tới đón đi.
Hai mẹ con vật lộn giằng co. Bà cụ xốc được thằng bé lên tay và đạp cửa chạy thốc ra được bờ mương. Chị Lầu kẹt trong đám khói không thoát ra được. Như vậy, cuối cùng chị đã thoả mãn ước nguyện:
- Để chờ ba nó tới đón đi.
Bây giờ ngồi nhắc lại thảm kịch kinh hoàng đó, bà cụ lại khóc lên nức nở:
- Phải chi tôi kéo được nó theo tôi. Phải chi tôi rủ nó đi sớm. Phải chi nó đừng giở chứng bất thần...
Và còn cả trăm lý do khác nữa bắt đầu bằng tiếng “phải chi” đó gậm nhấm tâm hồn già nua, cằn cỗi của bà cụ, khiến cụ như thấy mình bị giam hãm suốt đời trong tiếc hận.

                               (còn nữa)


Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

HẺM BUÔN CHUYỆN ( KỲ 133) : Phen này ông quyết đi buôn…hòm !!!!


                     

Mấy hôm nay cái lạnh Hànội tràn vào tận Sàigòn khiến sáng ra ai nấy co ro bên ly càphê nóng. Cô Phượng cave buồn rười rượi cất giọng ảo não :
                “ Ai mang gió Bắc vào đây
   Cho trời thêm lạnh cho mây thêm sầu ?”
Thằng Bảy vỗ tay đồm độp :
“ Í mèn ôi…chị Phượng cave nhớ bồ Hà Nội, tức cảnh sinh thơ buồn như con chuồn chuồn…”
Gã Ký Quèn cười cười :
“ Buồn thì cứ alô cái là cụ bay vào ngay mà.Mấy hôm nay cán bộ Hànội bay vào Sàigòn như ong vỡ tổ. Tiếng là họp nhưng là để tránh rét …”
Cô Phượng cave toét miệng cười :
“ Anh Ký Quèn giỏi quá ta. Ảnh mới điện sáng mai bay vào kiểm tra phong trào học tập theo gương Bác…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Vào kiểm tra hay vào để trái tim non ấp ủ trái tim  già ?”
Chị Gái hủ tíu góp chuyện :
“ Vậy cô Phượng cave hết buồn rồi. Hát bài gì cho vui đi…”
Thằng Bảy xe ôm vỗ tay :
“ Phải đấy, hát bài gì dính tới bác Hồ nhân bồ HàNội vào Sàigòn kiểm tra phong trào học tập theo gương Bác….”
Cô Phượng cave mắt ánh lên láu lỉnh rồi cất giọng hát:
“ Nhưng bông hoa  trong vườn Bác …
 Tỏa ngát hương mang tình yêu mênh mông…”
Gã Ký Quèn vỗ tay :
“ Hay hay…sắp hết năm cũ đón năm mới rồi thử xem trong vườn Bác mới có những bông hoa gì ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Mới nhất là hoa…Đường tăng …”
Ông đại tá hưu quát :
“ Thằng bố láo...vườn Bác làm gì có hoa Đường tăng ? Ông sư đi thỉnh kinh này dính gì tới bác Hồ ?”
Thằng Bảy xe ôm cãi :
“ Có đấy ạ…điện tăng, nước tăng, ga tăng…đường cũng tăng chớ bộ ?”
Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :
“ Trật lất rồi…mới nhất là hoa…”hai tô phở” …”
Ông đại tá hưu lại quát :
“ Con cave này nói năng tầm bậy. Làm gì có hoa “ hai tô phở” ?”
Cô Phượng cave gân cổ cãi :
“ Thì báo Tuổi Trẻ mới đăng kìa .Nhiều nông dân ở phía Bắc tính toán làm một sào lúa sau khi trừ hết chi phí mỗi tháng lời thu về chỉ có từ 50.000-80.000 đồng, tương đương với hai bát phở ở thành phố, hơn 10.500 hộ dân Thanh Hóa bỏ ruộng, trả lại ruộng ra thành phố kiếm ăn rồi kìa…”
Ông  Tư Gà nướng lên giọng càm ràm :
“ Hoa gì cũng chẳng bằng hoa “tẽn tò”…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Hoa tẽn tò là hoa khỉ gì ?”
Ông Tư Gà nướng cười cười :
“ Thì lên đường chinh phục SEAGAME ai cũng tưởng hai đội tuyển đá banh nam và nữ giật huy chương vàng ngờ đâu trượt vỏ chuối cả hai, vậy chẳng phải dâng lên vườn Bác hoa tẽn tò là gì ?”
Cả quán cười ồ, gã Ký Quèn xua xua tay :
“ Chuyện nhỏ, hoa “tẽn tò” cũng chẳng bằng hoa “quả tớm” ?
Bà Năm củ cải mới bước vào quán đã lên tiếng :
“ Hoa “quả tớm” mới nhập Nhật Bổn hả ?”
Gã Ký Quèn xua xua :
“ Nhật nào có hoa đó. Hoa này của ông đại sứ VN tại Thổ Nhĩ Kỳ. Ổng mang 20.000 bảng Anh giấu trong người bị hải quan Đức bắt “quả tớm” tội rửa tiền,cho dù ông cãi là tiền mang về nước giúp đồng bào bão lụt, nhưng vẫn bị cảnh sát bắt đưa về đồn. Rõ nhục như con trùng trục…”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Thằng Ký Quèn dám bảo đồng chí đại sứ là con trùng trục hả ? Dù rửa tiền hay không thì đồng chí vẫn là đại diện của nước cộng hòa XHCN Việt Nam tại nước ngoài được đảng và Nhà nước lựa chọn kỹ càng …”
Cô Phượng cave xua xua tay :
“ Hoa “qủa tớm” vẫn chưa bằng hoa “phòng vệ”!
Ông đại tá hưu cau mày :
“ Lại cái con cave này nữa .Hoa “phòng vệ” là hoa gì mà dám đưa vào vườn Bác ?”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Thì nghị định Thủ tướng mới ký  "trong trường hợp cần thiết,  người thi hành công vụ được nổ súng để phòng vệ chính đáng…”
Ông Tư Gà nướng cảm ràm :
“ Trời đất ơi, chưa có nghị định nó đã giết người như ngóe, giờ lại được phép nổ súng “phòng vệ” nữa thì còn khối anh chết …”
Thằng Bảy xe ôm nhảy lên hát líu lo :
“ Phen này ông quyết đi buôn…hòm…
Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng …”
Cả quán cười  ồ. Ông đại tá hưu văng miệng chửi thề rồi hầm hầm ra khỏi quán.

21-12-2013