Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 156 : Đã chết đâu mà giỗ ?



Sắp tới 30 tháng Tư, báo chí và truyền hình nhất tề đưa tin, phát hình toàn   chuyện “giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước”. Nào tổ biệt động đánh trụ sở đại sứ quán Mỹ, nào  hầm bí mật chứa vũ khí ngay giữa thành phố, nào các cơ sở bí mật nội ô…Ngót 40 năm rồi, nói đi nói lại có nhiêu đó  mà vẫn chưa chán mới tài. Cứ  mở tivi  lại thấy bom đạn ùng oàng, mấy anh mặc bà ba đen xách súng , mấy chị khăn rằn vác dao, rùng rùng, loạn sạ trong ngút trời khói lửa.
Vào dịp này, xuất hiện nhiều nhất trên tivi vẫn cứ là mấy ông lãnh đạo cấp cao rồi đến các cụ cựu chiến binh, thất thập cổ lai hy cả rồi mà rõ khổ, Sàìgòn nóng 37 – 38 độ  vẫn cứ đóng quân phục với nửa ký huân chương, huy chương, huy hiệu “chống Mỹ cứu nước”.
Sáng nay quán đang chuyện rôm rả thì rộp rộp, ông đại tá hưu diện bộ đồ diễu binh ưỡn ngực đánh gót bước vào. Cô Phượng cave vỗ tay reo lên :
“ Í cha…chú Ba  diện đồ lớn vậy, chắc lại lên tivi báo cáo thành tích chiến đấu anh dũng ngoan cường “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào “ phải hôn ?”
Ong đại tá hưu ưỡn ngực :
“ Báo cáo thành tích trên tivi làm từ tháng trước . Bữa nay tuyên huấn thành uỷ mời tham giaGiám khảo hội thi “ Anh sáng thời đại “  đây ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Thi “ Anh sáng thời đại “ là sao ?”
Cô Phượng cave cũng thắc mắc :
“ Phải thi coi đèn dây tóc với đèn compact đèn nào sáng hơn không ?”
Ong đại tá hưu đập bàn :
“ Con này láo ! “Anh sáng thời đại đây” là chủ nghĩa Mác Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh chứ đâu phải ánh sáng đèn sợi tóc với đèn compact ?”
Cô Phượng cave cười  to :
“ À…ra vậy…mà thi những gì chú Ba ?”
Ong đại tá hưu đắc chí :
“ Phải trả lời 75 câu hỏi trắc nghiệm tìm hiểu chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh…”
Gã Ký Quèn từ nãy ngồi im bất chợt kêu lớn :
“ Chết mẹ rồi…chú Ba nói lộn rồi…nguy hiểm…nguy hiểm quá…”
Ong đại tá hưu cụt hứng, quát lớn :
“ Thằng Ký Quèn kia…Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng là ánh sáng thời đại thì là gì ? Mày nói tao sai chỗ nào ?”
Gã Ký Quèn kêu to :
“ í trời ơi…chú Ba lão thành cách mạng mà không biết bây giờ đảng rất kỵ nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh à ?”
Ong đại tá hưu lại đập bàn :
“ Thằng láo…tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng soi đường cho toàn đảng  toàn dân sao mày dám nói đảng kỵ nói tới ?”
Gã Ký Quèn chậm rãi :
“ Vậy chú Ba không thấy đảng chỉ phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” à , tức là chỉ học “tấm gương đạo đức “ thôi nha , chứ không phải học “tư tưởng Hồ Chí Minh” đâu !”
Thằng Bảy xe ôm vỗ tay :
“ Hoan hô anh Ký Quèn…nắm vững chủ trương đường lối đảng quá ha ? Nhưng  sao đảng  ngại học “tư tưởng Hồ Chí Minh “ chỉ cho học “đạo đức Hồ Chí Minh “ là sao ?”
Gã Ký Quèn cười khơ khớ :
“ Tư tưởng Hồ Chí Minh có nói tới chống quan liêu, tham nhũng, hai căn bệnh mãn tính đảng ta không sao chữa được, nên phải lờ đi, không cho nói tới.”
Cô Phượng cave vỗ tay :
“ Đúng đúng…chẳng may học tư tưởng của Bác lại cứ trích dẫn lời Bác dậy phải chống quan liêu , tham nhũng thì chết cha cán bộ …”
Gã Ký Quèn lắc đầu :
“ Không phải, cái chính không cho học tư tưởng Hồ Chí Minh là tinh thần độc lập, tự do , toàn vẹn lãnh thổ kiểu như bác Hồ nói “vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải giữ lấy nước…”. Cái đó…”nhạy cảm” lắm…”
Cô Phượng cave thắc mắc :
“ ủa …sao kỳ vậy…học tập tinh thần độc lập , tự do  tốt chớ sao nhạy cảm ?”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Học vậy chạm nọc Trung Quốc, ảnh hưởng tới tình hữu nghị 16 chữ vàng , 4 chữ tốt chứ sao ? Tóm lại thằng Tàu thì không muốn ta nói tới độc lập, toàn vẹn lãnh thổ ,còn đảng ta  lại không thích nói tới “tự do”. Bởi vậy đảng mới tránh, không cho toàn đảng  toàn dân học tập  “tư tưởng Hồ Chí Minh “ là vậy ?”
Cô Phượng ca ve vỗ tay :
“ Anh Ký Quèn phân tách có lý quá. Hèn chi  các đồng chí Trung Quốc lăm le chiếm cả Trường Sa mà các đồng chí cấp cao cứ im thin thít, lúc nào cũng “núi liền núi sông liền sông , tình hữu nghị sáng như biển Đông”. He he…mai mốt Tàu nó chiếm hết cả biển Đông rồi thì mấy ổng nói sao với dân đây ?”
Gã Ký Quèn cười hề hề :
“ Thì lại vẫn cứ nói chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “ánh sáng thời đại “…”
Ong Tư Gà nướng lúc này mới lên tiếng :
“ Chú Ba làm Giám khảo hội thi tìm hiểu “ Anh sáng thời đại” tức chủ nghĩa Mác Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh . Vậy tôi xin hỏi ”ánh sáng thời đại” chiếu cách sao mà lại sập mẹ nó cả  Liên xô với khối xã hội chủ nghĩa Đông  Au  vậy ?”
Bà tổ trưởng lên tiếng :
“ Chuyện này “nhạy cảm” không được hỏi ?”
Thằng Bảy xe ôm cắt ngang :
“ Chú Tư Gà nướng hỏi vậy thì đến ông Nguyễn Phú Trọng cũng cà lăm…”
Ong Tư Gà nướng cười  khà khà :
“ Vậy thì phải hỏi sao ?”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Phải hỏi vầy nè : “ Không có gì quý hơn độc lập tự do. “ Ai đã nói câu đó. Đáp án 1 : “Các Mác”. Đáp án 2 :”Lênin”. Đáp án 3 :” Hồ chí Minh”.
Ong đại tá hưu hớn hở :
“  Đúng…đúng phải hỏi vậy đó. Đáp án đúng là đáp án 3 Hồ Chí Minh rồi…”
Cô Phượng cave lại hỏi :
Học…học nữa…học mãi…”. Ai đã nói câu đó . Đáp án 1 : Các Mác. Đáp án 2 : “Lênin”. Đáp án 3 :” Hồ Chí Minh.”
Bà tổ trưởng nhanh mồm :
“ Bác Hồ nói chứ ai …”
Ông đại tá hưu vội vàng :
“ Câu này Lênin nói . Đáp án đúng là đáp án số 2 rồi…”
Cô Phượng vỗ tay :
“ Hoan hô chú Ba…trả lời đúng đáp án. Tôi hỏi câu thứ ba này . “Ngày 9 tháng 4 năm nay là ngày gi >” Đáp án 1 : “Ngày thành lập Đảng”. Đáp án 2 :” Ngày bác Hồ từ Trung Quốc về hang Pắc Bó”. Đáp án 3 :’ Ngày giỗ vua Hùng”.
Ong đại tá hưu trả lời ngay  :
“ Ngày bác Hồ về hang Pắc bó . Đáp án 2 là đáp án đúng…”
Cô Phượng cave cười hô hố :
“ Ê…sai rồi … Đó là ngày giỗ tổ Hùng Vương…Chú Ba sai rồi …”
Ong đại tá hưu đỏ mặt tía tai. Thằng Bảy xe ôm chen vào :
“ Chú Ba sai là hợp lý rồi . Ngày giỗ tổ Hùng Vương đâu có nằm trong vòng phủ sóng của chú Ba. Giả tỉ như ngày giỗ đảng thì chắc chắn chú Ba sẽ nhớ ?”
Ong đại tá hưu hầm hầm, đập bàn quát to :
“ Thằng láo nha…Đảng đã chết đâu mà giỗ…”
Cả quán cười ầm ầm :
“ Ha ha…ha ha…ha ha…”
   

                      26-4-2014

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 105



                                 ( tiếp theo)

“ Lão già” lắc đầu :
“ Chẳng ăn nhằm gì đâu . Tụi nó bán đứng Việt Nam cho Tàu từ trên chóp bu rồi. Mình là phó thường dân chẳng có làm được gì . Chị có vẽ một bản đồ chứ cả trăm bản đồ cũng không lay chuyển được tình hình nữa rồi. Ngay như bác Ba Phi đây, bác sống ngay trong nước, giờ tôi hỏi bác đã góp phần chống nguy cơ Bắc thuộc ra sao nào ?’
Bác Ba Phi ngơ ngác :
“ Tôi tuy ở trong nước thật đấy nhưng có biết gì đâu ? Qua báo chí với phát thanh truyền hình thì thấy mấy ông nguyên thủ quốc gia vẫn bắt tay, ôm hôn thằng Trung Quốc và hết lời ca ngợi 16 chữ vàng với 4 điều tốt tốt đấy thôi…”
“Lão già” cười ha hả :
“ Đó…các quý vị coi…bác Ba Phi là nông dân thứ  thiệt đại diện cho tới 90% dân số Việt nam mà tơ lơ mơ vậy…đầu óc lúc nào cũng bị nhồi nhét Việt Nam với Trung Quốc gắn bó như môi với răng, núi liền núi, sông liền sống, mối tình hữu nghị sáng như biển Đông thì thử hỏi mai kia thằng Trung Quốc nó đánh úp sang Việt nam thì quân và dân ta chạy cả lũ như chuột, lấy đâu ra tinh thần “sát thát” ngày xưa ?”
Bà chủ quán phản đối :
“ Tôi không tin …. Tôi không tin dân mình lại khiếp nhược  đến thế … cả ngàn năm đô hộ tàu có khuất phục được dân ta đâu…”
“lão già” cười khì khì :
“ Đó là chuyện của 83 năm trước kia chị ơi !”
Bà chủ quán ngạc nhiên :
“ 83 năm là sao ?’
Chị Kelly Thi bật cười :
“ Ý ông này muốn nói là 83 năm trước lúc chưa có cộng sản Việt nam kìa…từ khi cộng sản lên nắm cổ dân thì họ đã làm tê liệt tinh thần phản kháng chống ngoại xâm của dân tộc mình rồi…”
Bà chủ quán cười theo :
“ Cô nói vậy là đánh giá quá cao cộng sản…dù cho có tàn độc, mưu ma chước quỷ đến đâu…cộng sản chẳng thể nào mà tiêu diệt được lòng yêu nước của ngưuời Việt Nam. Đó…cứ thử coi…giả sử một ngày nào đó thằng Trung Quốc đem quân tràn xuống đánh biên giới Việt Nam coi, lúc đó tôi tin tưởng hễ là người Việt Nam dù trong nước hay ngoài nước cũng đều sôi sục tinh thần chống âm mưa xâm lược  của bè lũ Bắc kinh . Lúc đó chắc phải dùng lại câu nói của ông Hồ :” ai có súng dùng súng, có gươm dùng gươm nhất tề đứng lên đánh đuổi bọn quân xâm lược Bắc Kinh ra khỏi bờ cõi…” bất kể anh là Việt Cộng hay là Việt kiều hễ là Việt Nam thì phải góp phàn đánh đuổi giặc tàu xâm lược…”
Bác Ba Phi buột miệng khen :
“ Chà chà…chị nói trúng ý tôi…khoái  cái lỗ nhĩ quá…phải như vậy chớ…sợ gì ba thàng Tàu…”
Bà chủ mời mọi người ra sân coi hoa cây cảnh. Trong một góc sân rộng chừng hai trăm mét vuông có mái che, có nước phun làm mát, chủ nhà trồng đủ các thứ cây đều có ở Việt Nam như tre, trúc, chuối, bưởi, mít, vú sữa. Có cả một dàn hoa thiên lý xanh mát bên cạnh một cây cau nôm chẳng khác gì cảnh quê ngoài Bắc Việt Nam. Góc vườn bên dưới một gốc cây si cổ thụ rễ xum xuê là một hòn giả sơn lớn xung quanh là hồ nước trong veo nhìn thấy cá vàng lội tung tăng. “
 “Lão già” ngó nghiêng khắp nơi khắp chỗ , gật gù :
“ Bà chị sống có một mình mà có cái vườn cây công phu thế này ắt hẳn phải bỏ công bỏ sức ra nhiều lắm…”
Bà chủ quán bùi ngùi :
“ Tất cả là do ông nhà tôi đấy. Từ lúc vượt biên sang Mỹ rồi định cư ở đây, ông ấy chẳng đi làm đâu, chỉ sống bằng tiền trợ cấp, bao nhiêu thời gian dốc hết vào chăm sóc cái vườn này, Cứ nghe ở đâu có giống cây Việt Nam là lặn lội đi xin cho bằng được. Về quê ở Long An thăm họ hàng chẳng chịu đi đâu cứ tha thẩn mấy cái vựa cây tìm giống cây…”
Bác Ba Phi buột miệng khen :
“ Hèn gì có được khu vườn cây quý giá thế này… nhất trong vùng khí hậu sa mạc. Trồng được như thế này phải nói là tay nghề trồng trọt cao cường lắm. Chắc khi còn ở Việt Nam ông nhà cũng là chủ vườn cây ?”
Bà chủ nhà gật đầu :
“ Vâng…gia đình tôi có mấy mẫu vườn trồng bưởi…hàng năm thu hoạch cả mấy chục xe tải…”
Bác ba Phi kêu lên :
“ Vậy thì giàu to rồi…còn vượt biên sang đây làm gì ?”
Bà chủ quán ngậm ngùi :
“ Chúng tôi ra đi cũng là vì tương lai xấp nhỏ…Ngờ đâu người tính không bằng trời tính…vượt biên 5 lần 7 lượt mới thoát được hai vợ chồng, còn hai đứa con thì nằm lại dưới đáy biển…”
Bác ba Phi kêu lên :
“ Trời đất… giá đừng đi thì đâu đến nỗi…”
“ Lão già” lên tiếng :
“ Thế bác không biết hồi đó người ta kháo nhau sống với cộng sản thì đến cái cột điện có chân nó cũng đi…”
Chị Kelly Thi phụ hoạ :
“ Ong nói đúng đó… nhớ lại ngày xưa may mà mình vượt biên trót lọt mới có cuộc sống như ngày nay, chẳng may nếu kẹt lại buộc phải sống với cộng sản thì Oh My God….terrible…terrible…”
Bà chủ quán chậm rãi :
“ Cũng tuỳ người thôi…tôi về Việt Nam thấy nhiều người sống cũng được lắm chớ. Như ông bà gìa tôi được tụi tôi đón sang Mỹ sống mà nhất định không đi, khăng khăng đòi ở lại sống nơi miệt vườn…”
“Lão già” cười  to :
“ Nếu vậy thì ông bà già nhà chị điên nặng rồi…con cháu có nhà có cửa bên này mà không chịu đi…chẳng bù cho lắm cô phải kết hôn giả để lấy giấy tờ sang đây định cư đó. Tôi có ông bạn có song thân vẫn còn ở lại Việt Nam. Lần nào ông bạn tôi về thăm nhà, bố mẹ cũng giục làm giấy tờ lẹ lẹ lên bảo lãnh hai cụ sang Mỹ sống. Ong con cứ ậm ừ cho qua chuyện. Chứ hai ông bà lo ngoại 80 cả rồi , sang Mỹ vài  năm  chết , lo tiền ma chay chắc sạt nghiệp…”
Bấc Ba Phi cười  như mếu :
“ Tôi nghe nói chết ở Việt nam rẻ hơn bên Mỹ này nhiều lắm…”
Chị Kelly Thi trợn mắt :
“ Rẻ hơn cả chục lần kìa.Bởi vậy nhiều ông bà mua nhà , tậu đất cho bố mẹ già về lại Việt Nam sống. Trước hết là hợp ý các cụ. Sau nữa là vài năm nữa các cụ có nằm xuống thì bay về Việt Nam ma chay đỡ tốn kém hơn ở Mỹ nhiều lắm…”
Bác Ba Phi thở dài :
“ lại còn tính toán chi li vậy hả. Tôi tưởng những ngày cuối đời , người già được sống bên con cháu là hạnh phúc nhất ?”
“ Lão già” cười nhạt :
“ “ Cái đó xưa ròi ông ơi. Ở bên này con cháu đứa nào cũng phải lo đi làm mà kiếm tiền. Cứ cái kiểu động tý nghỉ ở nhà chăm nom bố mẹ già thì mất job liền. Bởi vậy tốt nhất là đưa các cụ vào viện dưỡng lão. Ơ đó người ta trông nom săn sóc tốt lắm. Con cháu cứ tới dịp nghỉ là kéo vào thăm bố mẹ, ông bà…như vậy chẳng hơn ở nhà làm khổ con cháu sao ?”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Đó là cái lý  sắp xếp sao cho thuận tiện ở bên Mỹ này thôi. Ở quê tôi nhà nào có nội ngoại già cả mà đưa ra khỏỉ nhà, xa con xa cháu là thiên hạ người ta thắc mắc, chê cười ngay…”
Chị Kelly Thi cãi :
“ Chuyện đó xưa rồi bác ơi. Kỳ rồi tôi về thăm nhà.Trừ những gia đình khó khăn không nói làm gì. Những gia đình giàu có hoặc cất nhà cho bố mẹ ở riêng rồi thuê người hầu hạ, hoặc đưa các cụ vào viện dưỡng lão chẳng khác gì bên Mỹ này…”

(còn tiếp)






Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ ( KỲ5)

                                      (tiếp theo)

Mình ra khỏi hải phận Việt Nam rồi. Như vậy đây là cá lớn chứ không phải taxi gì hết. Tự nhiên tôi lại cảm thấy lo lắng khi biết anh Thành đã xí gạt chúng tôi nhưng bây giờ thì đã quá muộn. Câu nói quả quyết của anh: " Ghe nhỏ như vầy làm sao vượt biên được. Cá lớn chờ ngoài khơi kìa " trở về trong trí tôi. Biết nói như vậy nhưng sao anh Thành lại vẫn dùng ghe nầy cho chuyến vượt biên của chúng tôi? Giờ mình có muốn đổi ý, muốn quay về cũng không được nữa. Thôi đành phó mặc cho số phận vậy. Ghe tiếp tục chạy như vậy thật lâu thì tự dưng tốc độ giảm lại và ghe dừng hẳn dù máy vẫn nổ. Có nhiều tiếng người nói lao xao bên ngoài vọng vào tai tôi. Chuyện gì đây? Trong tiếng máy ghe tôi nghe thêm tiếng máy nổ khác. Vậy là có ghe hay tàu lạ ở gần bên ngoài rồi. Chợt cả hai cánh cửa lớn khoang ghe được mở tung ra hoàn toàn. Ánh sáng bên ngoài tràn đầy vào trong hầm làm mọi người phải nhắm ngay mắt lại. Lấy tay che mắt, tôi nhìn lên các khuôn mặt lạ đang quan sát chúng tôi. Họ là ai vậy? Một người đàn ông mỉm cười, nói:

- Đông người dữ ha. Bà con đừng sợ, tụi tui cũng dân biển không hà. Chạy được tới đây coi như là thoát rồi có điều tối khuya nay trời có dông đó. Biển hơi động nghe bà con, ráng chịu cực thêm chút xíu qua cơn thì ghe chạy êm ru. 

Vài người ngồi dưới khoang ghe nhân cơ hội ngỏ ý muốn trèo lên để đi tiểu và họ leo lên thật. Tôi ráng hết sức cũng lách ra rồi đu người leo lên thành ghe. Một chiếc ghe kích cỡ bằng cá lớn chúng tôi đậu sát bên cạnh. Mấy người trong chiếc ghe đó cho chúng tôi biết họ là ngư dân của đảo Phú Quốc và vùng biển chúng tôi ở đây thuộc nước Khmer. Tôi nhìn chung quanh, ánh nắng chói chang trên đầu, nước biển mầu xanh lá cây xa tít tới tận chân trời. Chỉ toàn một màu xanh nước biển và không một bóng ghe, hòn đảo nào khác nữa. Tôi nằm vật xuống ngay trên thành ghe, tự nhủ là chắc mình nằm đây luôn không chui xuống khoang hầm chật hẹp nữa. Nằm trên sàn ghe thật là dễ chịu! Những người trên chiếc ghe Phú Quốc đó xin chúng tôi cho họ tất cả tiền Việt Nam còn mang trong người, nói là đến được trại tỵ nạn bên Thái thì cũng vất bỏ đâu có xài. Tôi ngồi dậy, móc tất cả tiền Việt trong bóp ra cho họ y như những người khác. Những người tài công trên ghe chúng tôi cho họ cả những tay lưới đánh cá luôn. Sau đó, những người trên ghe Phú Quốc này cùng với tài công trong ghe chúng tôi bàn bạc nhau về hướng đi của ghe và cách đối phó khi gặp trời dông gió trong tối nay.

Khi chiếc ghe Phú Quốc từ giã chạy xa rồi thì những người tài công lại bắt buộc chúng tôi phải chui xuống khoang hầm trở lại trước khi ghe tiếp tục chuyến hải hành. Đúng như lời những tài công của ghe Phú Quốc đã nói, lúc nửa khuya, dông gió bắt đầu xuất hiện. Thoạt đầu ghe vẫn còn chạy bình thường và tiếng mưa quất vào thành ghe thành một âm thanh đều đều nhưng rồi dông gió càng lúc càng to. Tiếng mưa bây giờ gào thét cuồng nộ và các giọt mưa bào sát vào thành ghe kêu rào rạo. Tôi nghe tiếng chân của các tài công chạy tới chạy lui trên mặt khoang ghe và tiếng họ gọi nhau í ới. Có lúc ghe lắc thật mạnh, các miếng ván thành ghe vặn vào nhau kêu ken két cùng với tiếng người nào đó khóc thét lên. Tôi tỉnh hẳn cơn mệt cơn say sóng vì quá sợ hãi. Tôi không còn nhớ đến bất cứ chuyện gì ngoài những khuôn mặt của các thân nhân ruột thịt tôi. Dông gió cứ như vầy hoài thì ghe sẽ chịu thêm được bao lâu? Tuy ngồi yên một chỗ nhưng qua những cảm giác trong cơn dông gió này, tôi biết chiếc ghe đang chịu cảnh vùi dập của các cơn sóng dữ dội bên ngoài. Cửa khoang hầm dù đã được đậy kín nắp nhưng nước bên ngoài vẫn hắt từng chập vào người chúng tôi qua các kẽ ván hở. Người tôi bây giờ ướt sũng nước mặn. Cơn dông kéo dài như vậy suốt cả đêm mà kỳ lạ thay, chiếc ghe vẫn chịu được cho đến sáng thì giông gió bớt dần và rồi ngưng hẳn. Cửa khoang hầm được mở ra và tiếng người tài công nói lớn bà con ơi biển lặng rồi, mình thoát cơn dông rồi. Bây giờ thì tài công cho phép ai muốn lên trên thành ghe hay muốn ở dưới khoang hầm thì tùy ý. Tôi lại trèo lên nằm hẳn trên mặt sàn ghe. Ghe chạy êm ả đều đều như vậy và bây giờ thì mọi người thấy có những hòn đảo xa xa. Một tài công nói là thấy đảo nhiều như vầy thì ghe mình sắp vào Thái Lan rồi.

- Tụi tui phải ngủ lấy sức mới chạy tiếp được, mệt quá rồi. Một tài công nói. 

Họ cho ghe chạy từ từ vào sát một chỗ khuất của một hòn đảo gần nhất. Máy ghe tắt hẳn trả lại sự im lặng tĩnh mịch của khung cảnh. Trời buổi sáng sau cơn dông hồi hôm khiến không khí mát lạnh. Thỉnh thoảng có cơn gió thổi qua làm ai cũng cảm thấy dễ chịu. Tôi lại nhắm mắt ngủ tiếp, mơ hồ nhớ lời nói của người tài công là nội ngày mai hay ngày mốt thì mình sẽ có mặt tại một bờ biển nào đó của Thái Lan mà đâu ngờ những tai ương khiếp đảm sắp sửa đổ xuống cho hành khách của chuyến đi bất hạnh này.

Mặt trời lên cao chiếu ánh nắng nóng làm tôi thức giấc và tỉnh ngủ hẳn. Tôi ngồi dậy nhìn chung quanh, mặt sàn ghe người ngồi nằm la liệt bên nhau. Tôi lách người đi lần về phía đuôi chiếc ghe. Một phi nhựa khá lớn được cột chặt vào cạnh cửa buồng lái với nắp đậy kín. Tôi mở nắp nhìn vào bên trong, còn hơn phân nửa thùng nước. Thấy có chiếc ca nhỏ, tôi múc ra một chút nước rửa sơ mặt mũi của mình rồi uống cạn phần nước còn lại. Từ lúc xuống ghe cho tới giờ tôi mới uống nước vậy mà vẫn không cảm thấy khát. Những can nhựa đựng dầu cạn không nằm lăn lóc đây đó. Trong buồng máy nhỏ, hai người tài công nằm gần nhau đang ngủ say. Tôi biết hai người nầy còn mệt hơn chúng tôi nữa vì chạy ghe suốt từ tối hôm đó đến giờ họ mới được ngủ như vậy. Tôi nhìn vào phía đảo, không một dấu vết có người sinh sống. Thỉnh thoảng có tiếng thú kêu chim hót trong các tàng cây vọng lại. Tôi bước đến cạnh bên sườn ghe, nhìn xuống mặt nước trong vắt thấy rõ cát, đá cùng những mảnh vỏ ốc và vài con cá nhỏ bơi lội tung tăng tận đáy. Chợt nghĩ đến Dũng đến Ánh Phương và Mỹ An, tôi quay về cửa khoang hầm định tìm xem họ ra sao thì đã thấy Ánh Phương nằm ngay trên mặt sàn phía gần mũi ghe. Tôi bước đến cạnh bên nàng gọi khẽ: " Phương ơi Phương có khoẻ không, em sao rồi? ". Nghe tiếng gọi, Ánh Phương mở hé mắt nhìn tôi. Nàng khẽ gật đầu rồi ngồi gượng dậy.Tôi ngồi xuống bên cạnh Ánh Phương, nhìn vào khuôn mặt nàng rồi nhìn lại thân thể tôi và những người khác. Chỉ có hai đêm nằm dưới khoang hầm thôi mà chúng tôi giờ trông khác hẳn. Người nào người nấy đầu tóc rũ rượi, quần áo nhếch nhác vì những vệt ói, bệt dầu mỡ và nước bẩn bám vào. 

- Em tưởng mình chết trong tối hôm qua rồi. Ghê quá đi anh Vũ ơi. Chắc những câu chuyện ghe vượt biên bị chìm là vì họ đã gặp dông gió như mình há anh? Ánh Phương thều thào nói với tôi. 

Tôi thấy Dũng, Mỹ An và cả thằng Minh nữa. Người nào cũng một vẻ bần thần mệt mỏi. Mọi người giờ đây đều ngồi trên mặt sàn ghe, trong ca bin và cạnh buồng máy dù trời nắng nóng nhưng chẳng có ai chịu chui xuống khoang hầm nữa. Ai cũng mừng vì thoát được cơn dông hồi đêm. Ghe này tuy nhỏ nhưng may mắn là còn tốt lắm. Tôi và Ánh Phương leo xuống khoang hầm tìm lại các túi xách của mình. Không còn ai ngồi ở đây nữa vì nó quá sức bề bộn, bê bết nước bẩn. Cả hai trèo trở lên sàn ghe đến bên Dũng và Mỹ An. Ánh Phương mở túi xách của nàng, lấy ra ít thỏi kẹo chocolat đã bẹp dúm mời cả bọn cùng ăn nói là kẹo này do anh ruột nàng gửi về từ bên Úc. Vài người trên ghe thu gom những xâu bánh tét, các bịch bánh ngọt, củ sắn và mì gói để gọn lại một chỗ cho ai cảm thấy đói thì ăn.

Trời nắng chói chang nhưng nhờ có gió mát nên chúng tôi cũng không thấy nóng. Đoàn người trên ghe cứ yên lặng nghỉ ngơi như vậy cho đến xế chiều thì hai người tài công thức dậy. Họ ăn uống qua loa rồi bắt đầu quay máy ghe để tiếp tục cuộc hành trình nhưng dù cố hết sức, máy ghe vẫn không nổ. Vài thanh niên khoẻ mạnh trên ghe loay hoay đến tiếp sức nhưng hoài công. " Tụi tui phải tháo máy ra xem nó hư chỗ nào ", hai tài công nói vậy và họ tháo tung máy ghe ra thật. Rồi sau đó, khi máy ráp trở lại thì họ cũng không quay cho máy nổ được. Mệt mỏi mà chuyện không thành, tài công cùng những người trên ghe quyết định cho ghe vào sát đảo để mọi người bỏ ghe lên bờ kiếm nước tắm táp và tìm chỗ nghỉ ngơi trong đêm. Hai thanh niên nhẩy xuống nước bơi vào bờ rồi họ nối dây vào ghe, kéo chiếc ghe đến chỗ cạn để mọi người có thể lội xuống được. Tôi, Dũng, Ánh Phương và Mỹ An theo những người trên ghe trèo xuống nước, bước dần vào bờ. Những người lên bờ trước chúng tôi đã tìm thấy nước ngọt trong các hốc đá. Nước ngọt mát lạnh trong các vũng nước khá lớn và cứ chảy tràn ra ngoài. Chúng tôi dùng tay khoát nước rửa mặt, rửa người cho sạch các vết bẩn rồi lấy quần áo trong túi xách ra thay. Sau đó, giặt sạch các quần áo bẩn và phơi chúng trên những cành cây thấp la đà. Xong xuôi, chúng tôi lại quay về kiếm chỗ nằm gần chiếc ghe mà bây giờ trống không chẳng còn người trên đó. Chúng tôi ngồi, nằm thành từng nhóm nhỏ ba bốn người bên nhau. Anh Tấn, người đã hỏi anh Thành về ghe taxi hay cá lớn là người lớn tuổi nhất trong cả bọn, nhìn khắp lượt đám người chúng tôi rồi nói:

- Ai có chuyện riêng muốn đi vô trong rừng thì đừng đi một mình và cũng đừng đi quá sâu vào bên trong. Đảo này chắc chắn không cọp beo gì đâu nhưng mà rắn độc thì có đấy và có khi cả loài trăn gió nữa. Đi một thân một mình gặp trăn có thể bị nó quấn chết tươi, do đó phải cẩn thận và chớ ăn trái cây rừng gì hết kẻo ngộ độc chết như chơi. Anh Tấn cũng nói thêm là ban đêm mọi người phải nằm ngủ gần bên nhau từng nhóm để có chuyện thì còn giúp nhau được và chớ có xé lẻ nằm riêng một mình không tốt. 

                                        (còn nữa)

nhà văn NHẬT TIẾN : Thủa mơ làm văn sĩ - KỲ 21


                         (tiếp theo)

Những năm lên trung học, vì đứng đắn con người ra nên rất ít khi tôi lui tới rạp hát nếu trong túi không có tiền. Cảm thông với rất đông học sinh cùng cảnh ngộ, tôi đã bàn với anh Đặng văn Ngữ tổ chức chương trình "Chiếu bóng chiều thứ Bẩy", nghĩa là hằng tuần, cứ đến chiều thứ Bẩy là chúng tôi dự tính sẽ tổ chức chiếu một phim ở một rạp đàng hoàng, giá vé bán đồng hạng có 5 đồng, ai đến sớm thì ngồi ghế đệm gọi là hạng "phô tơi" (Fauteuil), ai đến trễ thì ngồi ghế gỗ.

Buổi tổ chức đầu tiên chúng tôi chọn một phim Ấn Độ có tên là Saudaagar, fille des Indes (cô gái Ấn, tên Saudaagar) bởi vì trước đó cả Hà Nội đã xôn xao rủ nhau nô nức đi coi một phim Ấn độ khác có tên là Mangala, fille des Indes. Chúng tôi nghĩ, Mangala đã được tiếp đón nồng hậu thì Saudaagar chắc cũng được cái âm hưởng dư thừa.

Trong vòng 2 tuần lễ, anh Ngữ và tôi đã đôn đáo chạy đi thuê phim, mướn rạp, in vé, vẽ áp phích quảng cáo và đi đến đâu chúng tôi cũng được ủng hộ nồng nhiệt tới đó. Chúng tôi dự tính mỗi kỳ bán ít lắm cũng được 600 vé để thu về 3.000 đồng. Chi ra 2.500 đồng thuê phim, thuê rạp, 500 đồng in vé, in chương trình và chi phí linh tinh. Coi như huề vốn, hoặc giả có lời hay có lỗ thì tuần nọ bù tuần kia, chúng tôi vẫn có khả năng duy trì chương trình "chiếu bóng chiều thứ Bẩy" cho anh em học sinh các trường đi coi giải trí với giá bình dân.

Nhưng chúng tôi đã không lường trước một trở ngại lớn lao mà sau này, hai đứa suýt bị khốn đốn. Đó là cái vụ phải đóng Thuế Hí Cuộc !

Vốn là những tay mơ, lại tưởng mình chỉ làm việc xã hội chớ có buôn bán gì đâu mà phải tính tới chuyện thuế má. Nào ngờ khi làm đơn xin phép trình chiếu ở rạp Đại Đồng phố hàng Cót thì Tòa Thị Chính cho biết các vé trước khi bán ra phải đem lại cho Sở Thuế "đục lỗ kiểm soát"  để sau này căn cứ vào số vé bán ra, ban tổ chức phải nạp Thuế Hí Cuộc.

Thế là tôi và Ngữ ngã ngửa người ra vì cái tin động trời này ! Nhưng chương trình đã công bố rồi, nếu cứ tiếp tục tổ chức thì sẽ phải lỗ đứt đuôi vài trăm bạc Thuế. Mà rút lại không tổ chức nữa thì tiền in vé, in chương trình, tiền đặt cọc cho chủ rạp mà Ngữ đã xin ông bà cụ thân sinh ứng trước, tất cả cũng đều sẽ tiêu tùng ra mây khói. Thật đúng là chúng tôi đã bị du vào cái thế tiến thoái lưỡng nan, chót ngồi lên lưng cọp !

Cuối cùng, tôi và Ngữ bàn nhau chỉ còn có nước đi gặp ông Chánh Sự Vụ Sở Thuế để năn nỉ xin "đại xá" cho một lần.

Ối chà ! Đấy là lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi phải ra trước “cửa công”. Tuổi sấp sỉ 16, thân hình lại gầy nhom gầy nhóc, trông tôi chỉ như cậu bé mười ba, mười bốn. Còn Ngữ tuy mập và to con hơn, nhưng cũng chẳng già dặn được bao nhiêu. Nhìn chung, "phái đoàn" của chúng tôi thật chẳng có một kí lô gì so với tòa nhà to sừng sững ở ngay phố Bờ Hồ có những phòng ốc chật ních những nhân viên. Nhất là có ông Chánh Sự Vụ bệ vệ mà tôi còn nhớ hình ảnh của ông như in trong đầu.

Thân hình ông mập mạp, nước da trắng bóc điểm những nốt chấm hồng hồng, trán hơi hói đã điểm thưa những sợi tóc bạc, còn những ngón tay của ông thì vừa ngắn vừa to múp míp. Ông ta thuộc loại người vừa khó tính vừa hách dịch, lại xui cho chúng tôi hơn nữa là đã đi gặp ông vào cái hôm mà ông ta đang bị nhức đầu xổ mũi. Trong suốt buổi gặp hôm ấy ông hắt hơi luôn luôn, ống thuốc long não để ngửi không ngớt được ông đưa lên hít hà khiến cho hai cánh mũi của ông như phồng to lên và đỏ ửng như quả cà chua.

Thời tiết ấy, bệnh trạng ấy, lại phải lằng nhằng với mấy tên con nít không biết "luật pháp" dưới quyền ông là gì, thì hỏi làm sao mà ông không cau có, gắt gỏng, một đôi khi ông còn quát to khiến tôi xanh cả mặt lên nữa.

Kết quả lần "du thuyết" đó, chúng tôi thất bại hoàn toàn. Chúng tôi không xin được miễn Thuế Hí Cuộc. Chúng tôi phải đem vé đến đục lỗ trước khi bán ra trong khi ngày trình chiếu cuốn phim ca vũ nhạc Ấn Độ Saudaagar, Fille des Indes đã gần kề.

Cuối cùng, chúng tôi phải đem đầu đến nạp thầy Hiệu Trưởng Nguyễn văn Mùi để biện bạch và xin cầu cứu. Thầy Mùi nhận lời cứu vớt chúng tôi một nửa, nghĩa là xin giảm cho 50%. Đó là mức tối đa thầy có thể làm được. Nhưng chúng tôi đành phải chấp nhận và xúc tiến tổ chức để khỏi lỡ hẹn với bà con, cô bác. Nhưng sau lần đó, chúng tôi thề "cạch" tới già không tổ chức chiếu bóng, chiếu bung gì nữa hết. Thế là chương trình "Ciné các chiều thứ Bẩy" của chúng tôi tan theo mây khói.


CHƯƠNG CUỐI

Cũng như sinh hoạt văn nghệ bây giờ, hồi trước hằng năm cứ vào dịp gần Tết là bọn chúng tôi nô nức với bầu không khí sửa soạn viết bài cho các báo Xuân. Đối với các cây bút có tên tuổi thì viết xong bài nào là có chỗ tiêu thụ ngay bài ấy. Đó là chưa kể một số cây bút đã được tòa soạn giành xin bài từ trước, có khi lại đưa trước cả tiền nhận bút.
Được các tác giả nổi tiếng đóng góp bài vở, tờ báo sẽ thêm uy tín khiến cho số báo có thể bán chạy hơn, đặc biệt là những số báo Xuân. Mà khi nhận được lời mời, nhiều tác giả còn cân nhắc xem tuy tín của tờ báo đến đâu, có là loại báo đứng đắn, chuyên nghiệp không, hay chỉ làng nhàng, thậm chí còn bị mang tiếng là báo lá cải. Câu tục ngữ "chọn mặt gửi vàng" xem ra cũng đúng trong những trường hợp này, mặc dù dưới mắt bọn lau nhau chúng tôi thì  một sáng tác giá trị của một tác giả đã thành danh xét ra còn quí hơn…vàng !
Bọn chúng tôi thì chưa đạt được tới mức thượng thừa như vậy, nên muốn chen chân tìm được đất đứng trong một tờ báo Xuân sẽ buộc lòng phải viết tưới hột sen, và dòm chừng tờ nào tương đối dễ chen vô là gửi bài về tới tấp. Hoàn cảnh của chúng tôi cũng chẳng khác gì những kẻ đi săn tài tử chỉ xài toàn đạn ghém. Cứ bắn đại đi, khỏi cần nhắm kỹ, chắc chắn trong cả trăm viên chì phóng ra cũng sẽ có viên dính được con mồi.
Được cái ở Hà Nội vào dịp giáp Tết, bầu không khí  tuy lạnh lẽo nhưng lại là cái lạnh lẽo dễ tìm chỗ ấm cúng để tụ tập và gây cảm hứng sáng tác. Mỗi buổi tối sau khi cơm nước xong, cả lũ đều bận áo ấm để tìm tới nhà nhau. Hôm nào "suông" (hết tiền) thì ngồi nhà tán chuyện gẫu, còn hôm nào "rích kê" (có tiền) thì kéo nhau đi cà phê Nhân hay cà phê Giảng ở đầu phố Cầu Gỗ gần Bờ Hồ để thưởng thức hương vị cà phê tuyệt hảo với khói thuốc bay thơm lừng trong bầu không khí mùa đông, gió thổi lạnh lẽo trên mặt hồ.
Cà phê, một phin hết bốn đồng. Thuốc lá lẻ cứ hai đồng thì ba điếu. Ngồi trong tiệm, mỗi đứa ngậm một điếu (cho khỏi mất mặt bầu cua), nhưng trên đường về thì chỉ truyền nhau hút chung một điếu cho đỡ hao hụt. Đến lúc chia tay, trong túi mỗi đứa cũng còn được đôi ba điếu để lận lưng chờ đêm đem ra đốt lúc ngồi sáng tác. Sáng tác vào ban đêm hầu như là thói quen của nhiều người, vì đó là lúc yên tĩnh nhất. Công việc thường xuyên trong ngày cũng đã chấm dứt, chỉ còn một mình đối diện với trang giấy trắng muốt sẵn sàng đón chờ nguồn cảm hứng sắp tuôn trào.
Tôi đã cài kỹ cửa lớn, cửa nhỏ lại cho gió đông khỏi ùa vào phòng. Rồi bật đèn sáng, ngọn đèn đã được bao che bằng một xấp giấy báo để khỏi làm sáng choang cả nhà. Rồi chùm chăn bông lên tận cổ, vừa ngồi xổm trên giường hút thuốc phì phèo vừa kê tờ giấy lên mép bàn đã kê sát để cắm cổ viết. Trời thì mùa đông đấy nhưng ý Xuân lại tuôn ra ào ào ngậu sị cả lên : nào khai bút, nào xuất hành, nào Chúa Xuân, hoa Xuân, bướm Xuân, vườn Xuân ….cái gì cũng cố gài tiếng "Xuân" vào cho hợp tình, hợp cảnh.  Lại vì lâu lâu mới đi tiệm một lần nên bị cà phê nó hành cho trắng mắt, thức đến bốn, năm giờ sáng mà vẫn còn tỉnh như sáo sậu. 
Sau một đêm như thế, tôi có thể đã hoàn tất một bài tùy bút,  một bài thơ, hay có khi là một truyện ngắn hay một vở hài kịch. Thật bây giờ nghĩ lại cái khả năng viết mau, viết mạnh của hồi xưa mà bắt thèm.
Mỗi lần viết xong, hôm sau thế nào chúng tôi cũng chạy đi tìm nhau để khoe sáng tác của mình. Nhiều khi móc túi chẳng ai còn đồng cắc nào, đành lại đốt chung một điếu thuốc tới khi "rít" đến tận cùng, mẩu thuốc vứt đi chỉ còn chưa quá nửa phân. 
Lại cũng có nhiều hôm "vốn liếng" bết bát quá, mà mua chịu của quầy thuốc lá lẻ cũng không xong vì sổ nợ cũng khá cao rồi (đến nỗi khi đi qua, phải lảng tuốt qua bên kia hè phố để tránh mặt, chờ khi có tiền thanh toán). Những hôm đó bọn tôi chỉ còn cách chui xuống gầm bàn kiếm những đầu thừa vương vãi đâu đó đem đốt lại. Ấy vậy mà cũng có lần có đứa phải phàn nàn:
 - Các cậu khai thác kỹ quá, chẳng còn mẩu nào "ra hồn" cả !
Mặt ai nấy đều buồn hiu ! Tuy nhiên, nhớ lại cái thời như thế tôi lại thấy sao mà quý thế. Nó quá tươi đẹp, nó in dấu cả một thời đã sống hồn nhiên, trong sáng, đầy ắp những kỷ niệm đáng nhớ của cái tuổi hoa niên đã qua đi, không bao giờ còn trở lại.
Chắc tới đây hẳn có bạn đọc thắc mắc là viết bài như thế, báo đăng như thế, thì tiền nhuận bút để đâu, không lấy mà xài ?
Tôi xin thưa ngay rằng trong suốt quãng đời "mơ làm văn sĩ" của tôi¸bài đăng cũng đã nhiều, ra vô các tòa báo cũng đã lắm, giấy bản thảo đã xé từ không biết cơ man nào là tập vở, vậy mà tôi không được tòa báo nào chi trả cho một đồng bạc cắc.
Thật ra, vấn đề này cũng đã được bọn chúng tôi đem ra bàn cãi om sòm. Một phe chủ trương bài đã đăng thì phải là bài có giá trị. Mà có giá trị thì phải trả tiền là đúng đứt đuôi đi rồi. Nhưng phe khác lại chủ  trương "văn nghệ là cao quý", xía vô vấn đề tiền bạc nó làm cho mất vẻ thanh tao của con nhà văn nghệ đi. Thật ra đây chỉ là lập luận để che giấu một sự thật phũ phàng mà không ai dám đương đầu, đó là sự nếu cứ nằng nặc đòi tiền nhuận bút, tòa báo sẽ lẳng lặng xếp tác phẩm của mình vào hồ sơ: "Bài Loại". 

Bài mà bị loại thì mất cả chì lẫn chài !!
Thế rồi cuộc tranh luận rút cục chẳng đi đến đâu. Phe hăng hái thì cũng chẳng anh nào có gan ghi ở góc bản thảo mấy chữ "Có lấy tiền nhuận bút". Mà thế vẫn còn "oách" hơn cái thời còn phải ghi mấy chữ " Bài gửi đăng không lấy nhuận bút" nữa kìa.

                                        (còn tiếp)

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 126


                                         (tiếp theo)



Lần đó ông xuống một tỉnh miền núi kiểm tra công tác sắp xếp lại tổ chức các Ban, ngành  trong tỉnh uỷ. Làm việc xong với thường vụ ông được mời về nghỉ tại nhà khách tỉnh uỷ. Được đích thân bí thư tỉnh uỷ dẫn đi nên ô tô vừa tới sân  nhà khách ông Giám đốc đã dẫn một dàn các em tiếp tân xinh đẹp ra đón. Ông trố mắt trước  một em gái ăn mặc theo kiểu dân tộc , choàng khăn trên đầu, áo ngắn tay chẽn ngang bụng để hở ra một làn da trắng muốt. Bước chân xuống xe rồi , ông Sáu Thượng không chịu vào nhà ngay cứ ngây người nhìn cô gái làm ông Giám đốc nhà nghỉ cười  hóm hỉnh :
“ Báo cáo đồng chí...xin giới thiệu với đồng chí đây là cô Thật, người  dân tộc Thái, tiếp viên của nhà nghỉ...Để lát nữa bảo em nó lên dọn phòng cho thủ trưởng...”
Cô gái đi vào trong rồi, ông Sáu Thượng vẫn còn xuýt xoa :
“ Đẹp ...đẹp thật...da trắng như trứng  gà bóc...người lại mình rây kém gì hoa hậu ...”
  Tối hôm đó bí thư tỉnh uỷ chiêu đãi ông Sáu ngay tại nhà khách, vừa ăn vừa có các em văn công tỉnh múa hát giúp vui. Mặc dầu các cô đều xinh như mộng, múa hát mê hoặc lòng người, nhưng trong đầu ông Sáu vẫn không dứt nổi hình ảnh cô Thật  khiến ông cứ xoay qua xoay lại, ngơ ngơ ngác ngác như thể tìm kiếm ai đó , chẳng còn hồn vía đâu coi hát múa  . Ông Bí thư  tỉnh uỷ đi guốc trong bụng đồng chí phái viên trung ương  vẫy ông Giám đốc nhà khách tới thì thào điều gì đó. Ông này gật lấy gật để rồi bước lại gần ông Sáu Thượng rối rít :
“ Báo cáo anh...mời anh đi nghỉ , đi đường mệt...”
Ông bí thư cũng tiến đến bắt tay xin phép ra về và chúc đồng chí Sáu ngủ  ngon. Ông vui vẻ cảm ơn, hẹn ngày mai tiếp tục làm việc và hồi hộp theo chân ông Giám đốc nhà khách bước vào  phòng ngủ cực kỳ sang trọng. Một chùm đèn treo từ trên trần hắt xuống một chiếc giường gỗ quý trạm trổ cầu kỳ, có nệm dầy phủ vải nhiễu trên có hai  chiếc gối đặt song song làm ông Sáu Thượng cười  toét miệng :
“ Sao lại có tới những...hai chiếc gối kìa ? Còn ai nữa đây ?”
Ông Giám đốc nhà khách khúm núm :
“ Dạ...báo cáo đồng chí...cái đó...cái đó là tuỳ chủ trương của đồng chí thôi ạ...nếu đồng chí chỉ thị tôi sẽ ...tôi sẽ bố trí một cháu tới dọn giường cho đồng  chí ạ...”
Ông Sáu Thượng gật gật :
“ Được  được...phân công một cháu lên đây phục vụ đấm bóp để tái sản xuất sức khoẻ sáng mai tiếp tục làm việc với thường vụ thì rất tốt...rất tốt...”
Ông Giám đốc cười cười rồi quay ra phía cửa vỗ hai tay vào nhau. Không đầy nửa phút sau một cô gái mũm mĩm ưỡn ẹo bước vào. Ông Giám đốc xoa tay khúm núm :
“ Báo cáo đồng chí cháu này được chưa ạ ?”
Ông Sáu Thượng sầm mặt :
“ Vậy chứ cô Thật hồi chiều đi đâu mất rồi ?”
Ông Giám đốc nhà khách  sợ hãi :
“ Báo cáo đồng chí...cháu này đã được...đào tạo  nghiệp vụ...tay nghề rất cao ạ... còn cô Thật ...cô Thật thì chưa...chưa...”
Ông Sáu Thượng cười toét miệng :
“ Chưa đào tạo mới hay chớ...thành thạo quá, lữa ra rồi còn thích thú gì...cứ cho cô Thật lên dây...”
“ Dạ...nhưng cô Thật tư tưởng chưa thông ạ...sợ..sợ ...cô ấy không chịu ạ...”
Ông Sáu Thượng cau mày :
“ Chưa thông thì đả thông cho nó biết làm gì thì cũng là phục vụ cách mạng...phải biết hy sinh bản thân, đặt quyền lợi cách mạng lên trên hết chớ ...”
Ông Giám đốc vẫn nhăn nhó :
“ Dạ...báo cáo vẫn biết thế...nhưng con bé này...bướng bỉnh lắm ạ...tối nay bà thư ký công đoàn đã ...làm công tác tư tưởng cho nó mãi mà nó vẫn không chịu ạ...”
“ Nó đòi cái gì ?”
“ Dạ...báo cáo...nó không đòi gì, nó chỉ muốn giữ ...cái đó để sau này lấy chồng thôi  ạ...”
Ông Sáu Thượng ngẩn ngưởi ra ngẫm nghĩ rồi bất ngờ ông thay đổi thái độ :
“ Thôi được rồi, được  rồi, nhỏ tuổi mà có ý thức đạo đức vậy là rất tốt, rất tốt...”
Ngày hôm sau ông bàn với đồng chí Phó chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã về trường hợp cô nhân viên khách sạn tên Thật. Ông nói tỉnh phải chấp hành tốt chủ trương ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng người dân tộc vì vậy cần phải đưa cô Thật đi học “Trường con em các dân tộc miền núi” và để hỗ trợ cho tỉnh, ông sẽ xung phong nhận đỡ đầu cho cô ta để có điều kiện học tập , phấn đấu sau này làm hạt giống đỏ cho tỉnh. Chỉ thị  của ông Sáu Thượng  lập tức được thi hành. Bà thư ký công đoàn nhà khách được giao nhiệm vụ làm công tác tư tưởng cho cô gái. Thoạt đầu cô cứ nguây nguẩy :
“ A lúi...không được đâu...ngủ với người già...phà * bắt tội đó...”
Bà công đoàn rối rít :
“ Không phải ngủ...không phải làm gì hết...chỉ đi học thôi...đi học mai sau ra làm cán bộ...”
Cô Thật gật đầu :
“ Đi học thì được, ngủ với người già không được...”
Bà thư ký công đoàn bật cười :
“ Ai bắt cô ngủ mà sợ...người ta chỉ muốn đỡ đầu cho cô thôi...”
Cô bé miền núi vẫn lắc đầu quày quạy làm bà công đoàn phải giải thích “ đỡ đầu “ chính là bố nuôi, cô không phải làm gì cả chỉ phải gọi “người ta” là bố nuôi và được đi học hành, được mặc đẹp, được ăn cơm thịt , thỉnh thoảng được đi ô tô về Hà Nội tham quan lăng bác Hồ . Cô Thật nghe vậy thích quá đồng ý liền. Thế là ngay sau đó cô từ bỏ cái nghề nhân viên khách sạn và được đi học trong trường giành cho con em các dân tộc. Chỉ vài tháng sau, được nhàn nhã, được ăn ngọn mặc đẹp, cô Thật đã trổ mã thành một bông hoa rừng rực rỡ . Cô bắt đầu ý thức được quyền uy của mình  là con gái nuôi  đồng chí Phó Ban trên trung ương có nhiều ưu tiên và đặc quyền so với người khác. Có hôm được  nghỉ học về thăm bạn bè cũ ở nhà khách của tỉnh uỷ, vừa bước chân vào tới cổng, bà thư ký công đoàn từ bên trong đã lao ra kéo tay cô vồn vã :
“ Ối cha mẹ ôi, mới nghỉ làm có ít ngày mà đã tròn lẳn ra thế này. Vào đây...vào đây...cho tôi hỏi chuyện cô !”
Ông Giám đốc nhà khách nghe tin cũng đâm bổ xuống và nằng nặc kéo cô lên phòng hỏi chuyện :
“ Sao ? Cháu học hành tốt chứ ? Bố cháu khoẻ không ?”
Cô Thật líu ríu trả lời bố cô ở bản vẫn khoẻ và mới lên thăm mang cho cô chai mật ong làm ông Giám đốc sầm mặt :
“ Không không...Tôi hỏi bố nuôi cô kìa...tôi hỏi đồng chí Sáu Thượng Phó ban ở trên trung ương kìa. Đồng chí  có khoẻ không ? Có hay về thăm cô không ?”
Cô Thật trả lời rằng “bố nuôi” cô  bận công tác chưa về thăm được nhưng vẫn gọi điện hỏi việc học tập của cô và thường xuyên gửi quà nữa. Ông Giám đốc rối rít :
“ Đúng rồi...đúng rồi...bố nuôi cô bận bịu công việc tối ngày mà còn hỏi thăm và gửi quà vậy là tốt lắm rồi...Chừng nào bố về đây cô mời bố sang đây cho Ban Giám đốc chiêu đãi nhá .”
Từ đó cô Thật trở nên một người quan trọng nhất trong tỉnh, được trọng vọng, đón đưa có khi còn hơn cả ông Chủ tịch tỉnh. Đám con trai mấy ông cán bộ tỉnh lân la tìm tới tán tỉnh lập tức bị  răn đe cấm ngặt không được xớ rớ tới con gái nuôi đồng  chí Sáu Thượng mà ...chết cả nhà. Theo chủ trương của Ban tài chính tỉnh uỷ, để tạo điều kiện cho cô Thật yên tâm học hành, cô được  miễn chế độ nội trú trong khu tập thể như các học sinh khác. Cô được cấp một căn hộ đầy đủ tiện nghi và kín đáo trong khuôn viên của nhà khách tỉnh uỷ. Ngoài ra cô còn được hưởng chế độ cung cấp đặc biệt do nhà bếp của cơ quan đưa sang.
Ông Sáu Thượng có đôi lần về tỉnh công tác nhưng vì bận bịu công việc nên chỉ ghé thăm cô có đôi ba lần đủ để hỏi han việc học hành và sinh hoạt thường ngày của cô.
Cứ mỗi lần lên thăm, ông lại mang cho cô đủ thứ nước hoa, khăn tay , váy áo, kể cả quần lót, coóc sê của con gái loại hàng ngoại đặc biệt chỉ có bán ở cửa hàng Tôn Đản tận Hà Nội. Thoạt đầu cô còn ngúng nguẩy, sau vì đồ đẹp quá làm cô rất thích thành quen và bạo dạn hẳn lên tới mức để yên cho bố nuôi ướm thử quần áo lên người.
“Đẹp lắm...đẹp lắm...con mặc cái mầu này rất đẹp...”
Được ‘bố nuôi” khen cô sung sướng nở nang cả mặt mày không hề nhận ra trong đôi mắt của ông Sáu Thượng cứ loe loé lên những tia mắt rất lạ. Có lần ông ghé thăm cô, gửi  lại cái cặp bảo cô cất đi trong khi ông cùng đồng chí Bí thư tỉnh uỷ đi kiểm tra dưới vùng sâu vùng xa. Buổi tối, sau khi học bài xong, coi mãi ti vi cũng chán, cô nhớ ra cái cặp ông “bố nuôi” gửi lại. Cô đoán ở bên trong chắc nhiều đồ quý và lạ lắm như cái máy hình, máy điện thoại nhỏ xíu thỉnh thoảng ông vẫn lôi ra nói chuyện. Kích thích bởi trí tò mò, cô phân vân một hồi rồi quyết định mở cặp ra coi. Đúng như cô đoán, trong cặp có hai cái máy đó, mấy cuốn sổ công tác và một túi ảnh dầy cộp . Chắc là ảnh “bố nuôi” chụp trong lúc đi công tác đây. Cô ngần ngừ giây lát rồi rút trong đó ra một cái ảnh đưa lên coi. Bất chợt cô thấy nóng bừng cả người. Khiếp khiếp toàn  cảnh ghê gớm …

                        (còn tiếp)


Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 155 - Từ nay hết oan sai…

                    

Mấy hôm nay buổi trưa Sàigòn nóng tới 37 độ, bởi vậy từ sáng , quán cà phêđã đông đủ tranh thủ uống sớm tránh nắng trưa. Sáng nay  không hiểu sao vắng mặt gã Ký Quèn, bù lại, có thêm thằng Tới , con trai bà Năm củ cải, mặt mũi cau có, ngồi mãi góc quán, lầm lì trước ly cà phê làm chị Gái hủ tiếu ngạc nhiên :
“ ủa …gần 9 giờ rồi sao không đi làm , bộ mày ngủ dậy muộn nhỡ xe đưa rước rồi nghỉ luôn ?”
Thằng Tới cằn nhằn :
“ Nhỡ xe hồi nào ? Bữa nay có dậy từ nửa đêm cũng chẳng đi làm được ?”
“ Vậy…mày bị đuổi việc ?”
Thằng Tới  trợn mắt :
“ Đuổi đâu mà đuổi , bà này nhiều chuyện ?”
Chị Gái hủ tiếu dịu giọng :
“ Vậy chắc tuần rồi làm ca kíp nhiều nên hôm nay được nghỉ bù chứ gì ?”
Thằng Phi lạu bạu :
“ Bà này toàn đoán mò. Tôi nghỉ làm vì xí nghiệp Nhật bổn đang đình công tùm lum, “
Bà tổ trưởng trợn mắt: :
“ Thằng này to gan ! Dám đình công, không sợ chủ đuổi việc ?”
Thằng Phi vênh mặt :
“ Sức mấy, đuổi tôi thì đuổi cả 7000 công nhân kìa. Cả bên Bình Dương  cũng đình công rần rần .”
Ong đại tá hưu lên tiếng :
“ Làm gì cũng có tổ chức ? Vậy tụi bay đã báo cáo công đoàn  bênh vực quyền lợi chưa ?”
Thằng Tới nóng mắt, văng tục :
“ Công đoàn  cái con..cặc.Tụi nó với tụi Phòng lao động ăn cánh  nhau  bợ đỡ chủ Nhật, chủ Hàn, chủ Đài Loan …ăn phong bì cả rồi, ở đó mà bênh vực công nhân.”
Ong đại tá hưu quát :
“Thằng này láo, công đoàn là cha là mẹ, luôn lo lắng cho đời sống công nhân sao mày dám chửi bậy ? vậy tao hỏi mày lương tháng mày bao nhiêu ?”
Thằng Phi lậu bạu :
“ Cả  lương chính , cả phụ cấp hơn triệu chứ mấy ?”
Bà tổ trưởng reo lên :
“ Vậy cao quá rồi. Cao hơn nông dân nhiều. Ở nông thôn, nông dân đầu tắt mặt tối hàng tháng thu nhập quy ra tiền chỉ khoảng 500 ngàn thôi chứ mấy.”
“ Nông dân dưới quê không mất tiền trọ, không trả tiền điện, tiền nước rồi bao nhiêu chi phí khác nữa. Bà so sánh vậy đâu có được. Bà mà tới xí nghiệp tôi nói chuyện , công nhân ném đá vỡ đầu …”
Bà tổ trưởng né đầu y như có hòn đá ném vào. Vừa lúc đó mới thấy mặt gã Ký Quèn. Cô Phượng cave hỏi với sang :
“ Hôm nay anh Ký Quèn đi nhậu hay sao vắng mặt vậy…”
Gã Ký Quèn cười hi hì:
“ Tôi đang muốn ra Tòa đây …”
Cô Phượng cave la lên :
“ Í trời…khi không muốn ra Tòa ?”
Gã Ký Quèn vênh mặt :
“Sao không ? Cứ ra Tà cho nó xử oan sai rồi đòi bồi thường . Như ông Nguyễn Thanh Chấn tù oan 10 năm giờ đòi bồi thường hơn chục tỉ kìa…”
Thằng Bảy xe ôm cất giọng :
“ Còn lâu nha…ba thằng tòa giờ nó xử theo kiểu mới rồi…không còn oan sai đâu…”
Cô Phượng cave tò mò :
“ Kiểu mới là sao Bẩy ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Thế chưa nghe ca dao mới à ? Chỉ cái cò, cái vạc, cái nông mới được bao che thôi. Bởi :
“Cái cò là em vợ  tao
Cái vạc là cháu, cũng vào họ ta
Cái nông, em ruột thông gia”
Liệu mà kiểm điểm cho qua nhẹ nhàng”
Cô Phượng ca ve cười rũ :
“ Thế còn cái cóc thì sao ?”
Thằng Bảy xe ôm lại cất giọng ngâm ngợi :
“Cái cóc chẳng phải họ hàng
Đem ra xét xử, đàng hoàng, công khai”
Ba rem vậy đừng hòng oan sai nha…”
Cả quán cười ồ. Ong đại tá hưu và bà tổ trưởng bực mình chẳng biết nói sao  cứ ngồi ngây như phỗng.


21-4-2014



Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 104



                           (tiếp theo)

Chị Kelly Thi vỗ tay :
“ Chí lý…chí lý…Đảng xuống thuyền Noah trốn đại hồng thuỷ  phải mang theo cờ Đảng chớ ? Cờ Tổ Quốc mang làm gì ? Lúc đó thì cần gì tới  Tổ Quốc…”
“ Lão già” hùa theo :
“ Rất đúng…ngay khi nước rút, mọi người rời thuyền lên bờ, chắc chắn việc đầu tiên là Đảng phải họp đại hội bất thường để nhận định tình hình nhiệm vụ mới và bầu Ban chấp hành trung ương. Lúc đó phải dùng tới cờ Đảng rồi…”
“ Chị Kelly Thi” chợt reo lên :
“ Chết suýt nữa quên…nhớ là phải mang theo toàn bộ các văn kiện Đại hội Đảng các lần trước để xài lại trong kỳ Đại hội lần này…”
“Lão già” xua xua tay :
“ Không cần…không cần…Đại hội các kỳ trước họp khi còn toàn Đảng toàn dân, còn cả đất nước trên dẻo đất hình chữ S chạy suốt từ Bắc vào Nam. Giờ tuy nước đã rút, đất liền đã hiện ra nhưng đã biết trôi dạt vào đâu, chắc gì đã là đất nước Việt Nam. Dân chẳng có, đảng viên cũng không. Mọi thứ đều mới mẻ, lạ lẫm, văn kiện, nghị quyết đều phải viết lại cho phù hợp với tình hình mới, chứ bổn cũ soạn lại đâu có được ?”
Bác Ba Phi thấy hai người cứ thay nhau nói chuyện tào lao , lên tiếng nhắc :
“ Thôi thôi…tôi thấy hai vị cứ bàn toàn chuyện trời biển kiểu như chuyện viễn tưởng khoa học vậy …giờ ta đi tham quan chỗ khác kẻo hết ngày hết buổi …”
Chi Kelly Thi đồng tình :
“ Vậy thôi ta đi tìm hiệu phở đi…”
Bác Ba Phi ngạc nhiên :
“ Ở đây mà cũng có phở sao ?”
“ Lão già” cười cười :
“ Nói chung trên toàn nước Mỹ đâu đâu cũng có người Việt. Mà ở đâu cứ có người Việt là có…phở…”
Ba người leo lên taxi. Xe chạy khỏi khu sòng bạc phóng đi trên vùng sa mạc. Rồi ghé lại một dãy phố nhà cửa san sát. Vừa bước khỏi xe, hơi nóng đã phả tới rát cả mặt. Bác Ba Phi la lên :
“ Nóng quá…trời ơi nóng quá vậy ?”
Chị Kelly Thi cười  to :
“ Nhiệt độ sa mạc mà…ban ngày nóng 45 độ, ban đêm lại lạnh dưới không độ…thôi mình chạy nhanh vào tiệm kia đi ?”
Đó là một quán phở chủ là người Việt. Bà chủ thấy khách đồng hương ghé tới , vui vẻ chạy ra đón. “Lão già” long trọng giới thiệu :
“ Xin hân hạnh giới thiệu với bà chủ. Đây là một nhân vật nổi tiếng của Nam bộ : bác Ba Phi…”
Bà chủ quán tròn mắt :
“ Bác ba Phi nổi tiếng bắt cá sấu ở rừng U Minh ?”
Bác Ba Phi vội lắc đầu quày quạy :
“ Trùng tên thôi…trùng tên thôi…tôi có tài cán gì đâu ?”
Bà chủ quán nhìn bác Ba Phi cười cười :
“ Hèn chi…chứ bác Ba Phi thiệt đã chết từ tám đời nào rồi, làm gì còn sống tới giờ mà đi thăm Mỹ. Nhưng nom bác giống bác Ba Phi lắm đó…”
“Lão già” ngạc nhiên :
“ Uả…ra chị đã gặp bác Ba Phi thiệt rồi à ? “
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Gặp hồi nào …ông ấy chết từ lúc tôi chưa ra đời kìa. Nhưng cứ nhìn  hình qua sách báo tôi thấy bác này giống bác Ba Phi thiệt. Nom cứ như là em bác Ba Phi vậy đó…”
Chị Kellyt Thi tròn mắt :
“ Giống bác Ba Phi thiệt ghê lắm à ? Vậy bác sáng Mỹ sống chờ khi nào Holywood làm phim về bác Ba Phi nhất định họ sẽ thuê bác đóng vai chính , lúc đó bác sẽ giàu to…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Khỏi khỏi…tôi đâu có ham sang Mỹ đóng phim...”
“ Lão già” cười cười :
“ Nói cho vui vậy thôi.có đến Tết Congo Mỹ cũng chẳng làm phim về bác Ba Phi. Việt Nam còn khối nhân vật hài đặc sắc hưn bác Ba Phi nhiều ,  Trạng Quỳnh , Trạng Lợn,  Ba Giai - Tú Xuất ….bác Ba Phi đã ăn thua gì ?”
Chị Kelly Thi lắc đầu :
“ Ba cái nhân vật đó khéo chỉ gây cười cho người Việt Nam thôi…Gây cười cho thế giới để cho Holywood phải làm phim thì phải cỡ Laurel Hardy , Mesừ Hulot  của Pháp ngày xưa hoặc Mr Bean bây giờ. Chứ còn cỡ như bác Ba Phi khó mà lọt được vào mắt Holywood…”
Bác Ba Phi :
“ Bởi vậy tôi đâu có ham…”
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Nói thế chứ bác Ba Phi cũng có nhiều chuyện đặc sắc làm phim hay lắm chớ bộ. Thí dụ như chuyện có một bữa trời nắng, bác Ba Phi xuống một cái bàu tắm, giặt áo phơi ngay trên gạc con nai mà không hay. Bác ngủ một giấc, khi dậy thì thấy một tổ ong đóng ở dưới bắp chân. Ăn hết ổ ong mật đến nửa thùng bác mới lấy áo mặc ra về. Con nai lúc đó mới vùng chạy và áo của bác phơi trên gạc nai cũng vừa khô. Rồi có một lần khác, bác Ba Phi đi trong rừng gặp một bầy heo rừng mười một con nối đuôi nhau đi hàng một . Bác muốn bắt cả một bầy mười một con, liền leo lên cây tràm, bầy heo đi tới, bác chặt từng con một giữa sống lưng, lần lượt từ con đi đầu đến con thứ mười một, chỉ chặt đứt xương, chưa chặt đứt da. Đến con thứ mười một đứng lại, bác mới chặt tiếp. Cả bầy dồn cục, con nọ xô con kia, miếng da lưng đứt nốt. Thế là bác hốt cả bầy heo….”
Bà chủ quán còn hào hứng kể cả chuyện cọp xay lúa, cây tràm và con nai…tất cả đều là giai thoại về bác Ba Phi khiến “lão già” ngạc nhiên :
“ ủa…sao chị biết rành chuyện bác Ba Phi quá vậy, hay chị là hậu duệ của bác Ba Phi…”
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Tôi không phải con cháu bác ba Phi, tôi chỉ là đồng hương ở huyện Trần văn Thời, U Minh hạ với bác thôi. Quê tôi ngay từ bé ai chẳng nghe và thuộc lòng những  câu chuyện về bác Ba Phi.  Mà thực ra quê chính của bác là ở Đồng Tháp kìa, lớn lên  nghèo quá phải đi làm thuê nên mới trôi giạt vào U minh khai phá đất đai ở đó…”
Rồi bà cười cười quay sang bác Ba Phi :
“ Thế còn bác Ba Phi này quê ở đâu ?”
Bác Ba Phi thật thà :
“ Tôi quê gốc Tây Ninh nhưng rồi cũng trôi giạt xuống  Đồng Tháp , Long An. Tôi sang đây thăm con gái lấy chồng  Mỹ…”
Bà chủ quán vui vẻ :
“ Hoá ra là vậy. Nhưng gặp bác tôi có cảm giác như gặp bác Ba Phi thiệt đó. Đúng chất Nambộ rặt….”
Dù biết bác Ba Phi không phải thứ thiệt nhưng bà chủ quán vẫn hết sức vồn  vã mời cả ba người ở lại ăn cơm để bà được hàn huyên trò chuyện với người Việt không có hằng ngày bà chỉ toàn tiếp xúc với Mý , Nhật bổn, Trung Quốc với Hàn Quốc. Bà nói :
“ Lâu nay rất thèm được một bữa nói chuyện toàn với người Việt. Nhất hôm nay lại hân hạnh gặp bác Ba Phi là một nhân vật dân gian của Nambộ mà tôi rât quý mến. Bởi vâỵ nhất định phải giữ quý vị lại trò chuyện một bữa…”
Bác Ba Phi  thấy bà chủ quán nhiệt tình quá, không nỡ từ chối nên đành nhận lời. Chị Kelly Thi vỗ tay :
 ‘ Hay quá…không ngờ lại có cuộc gặp mặt đòng bào đồng chủng ở ngay giữa sòng bac Las Vegas trên đất Mỹ…”
Bà chủ tiệm giao hết việc bán hàng có hai cô giúp việc người Mễ rồi mời cả ba người vào phòng khách bên trong. Giống như mọi phòng khách sang trọng khác, cũng một bộ salông bọc nỉ to tổ chảng, nhưng chiếc ghế vây quanh, một chiếc đàn piano trong góc phòng. Một tủ ruơụ với nhũng chiếc ly pha lê sáng bóng, những chai ruơụ đủ loại nhãn mác đăt tiền. Những chậu cây thông kiểng trong góc phòng . Kệ sách với những bộ sách lớn đóng bìa da sáng choang….Một phòng khách giống bao phòng khách khác của người Việt trên đất Mỹ , chỉ khác trên tường treo một bản đồ Việt Namto bằng cả chiếc chiếu với những chủ thích tinh vi tới tận địa giới tỉnh.
“ Lão già” ghé mắt xem xét bỗng chốc kêu lên :
“ Bản đồ này chị lấy đâu ra ?”
Bà chủ quán vui vẻ :
“ Tôi xin được từ một cô làm thiện nguyện từ Việt Namvề.”
“Lão già” cao giọng :
“ Tấm bản đồ này thực ra không có vẽ hai quần đảo Trường Sa va Hoàng Sa. Ai mới vẽ thêm vào vậy ?”
Bà chủ quán cười tươi tỉnh :
“ Thì tôi vẽ chứ ai ?”
“Lão già “ trố mắt :
“ Chj vẽ à ? Chị nghĩ sao lại vẽ thêm vào vậy ?”
Bà chủ quán gịọng tỉnh bơ :
“ Còn nghĩ sao nữa ? Trường Sa và Hoàng  Sa của nước mình thì phải vẽ vào chớ mới đầy đủ chớ ?”
Chị Kelly Thi xen vào :
“ Ra bà ở tận góc trời toàn Mỹ trắng với Mỹ đen này mà vẫn  bày tỏ lòng yêu nước kia à ?”
Bà chủ quán cười cười :
“ Thì dù sống ở đâu mình cũng vẫn là người Việt Namchớ ? “
“Lão già” trợn mắt :
“ Nhưng đất nước Việt Namcó còn của dân Việt Namnữa đâu, nó bị cộng sản Việt nam chiếm đoạt hết rồi…”
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Vậy các quý vị không nhớ lời cá cụ ta nói à ? “Quan nhất thời, dân vạn đại “. Trào cộng sản hay trào cộng gì đi chăng nữa cũng chỉ nhất thời thôi. Chỉ có đất nước Việt Namvà người Việt Namlà còn tồn tại mãi thôi…”
Chị Kelly Thi ngắt lời :
“ Tại chị ở đây không gần Quận Cam hay San Joses nên ít thông tin . Ngày nay cộng sản Việt Namđang bán nước cho Trung Quốc. Nay nó chiếm Hoàng Sa, mai nó chiếm Trường Sa , rồi nó đang lăm le đòi cả đảo Bạch Long Vỹ cả vịnh Bắc Bộ nữa kìa. Rồi trên đất liền thì nó chiếm biên giới, Tây Nguyên…chăng bao lâu nữa nước ta lại trở lại thời Bắc thuộc ngày xưa kìa…”
Bà chủ quán cười cười :
“ Những chuyên đó tôi có biết chớ. Mặc dù ở cái xó xỉnh này nhưng qua internet tôi vẫn thường xuyên update được tin tức. Chính vì thằng Trung Quốc đang lăm le xâm lấn Việt Namnên tôi mới vẽ thêm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào bản đồ này đấy. Mình xa Tổ Quốc không tham gia đóng góp gì được để chống ngoại xâm, thôi đành cứ làm những việc nho nhỏ như vậy thôi…”

                                                                (còn tiếp)